Tìm bài viết trong Giảng Đường Y Khoa

Đang tải...

VIÊM TAI GIỮA CẤP TÍNH

http://www.pediatriconcall.com/fordoctor/diseasesandcondition/infectious_diseases/images/Ear1%5B1%5D.jpgTùy theo nguyên nhân gây bệnh, tùy theo sức đề kháng của cơ thể, tai giữa có thể bị viêm ở nhiều mức độ khác nhau : viêm tai giữa xuất tiết, viêm tai giữa sung huyết và viêm tai giữa mũ .

VIÊM TAI GIỮA CẤP XUẤT TIẾT DỊCH THẤM

(Otite aiguê cataơhale transsudative)

Viêm tai giữa cấp xuất tiết dịch thấm có đặc điểm là màng nhĩ thường bị sung huyết và trong hòm nhĩ có dịch thấm (transsuđat). Dịch thấm là một chất lỏng, trong, không có tế bào viêm, do nguyên nhân cơ học sinh ra.

Nguyên nhân của viêm tai giữa xuất tiết được xếp làm ba loại :

- U ở vòm mũi họng, hoặc phù nề ở loa vòi làm tắc sự thông hơi của tai giữa. Không khí trong hòm nhĩ tiêu dần, áp lực không khí ở tai ngoài cao hơn áp lực trong tai giữa. Sự mất thăng bằng này gây ra sung huyết và xuất tiết ở niêm mạc.

Sự mất thăng bằng giữa áp lực không khí ở tai giữa và tai ngoài còn được thấy ở phi công khi lao từ trên cao xuống thấp hoặc ở những người thợ lặn làm việc trong cái chuồng khi nén ở đáy sông.

Dị ứng cũng có thể gây giãn mao mạch và dịch thấm ở tai giữa.

Nói chung trong viêm tai xuất tiết nguyên nhân cơ học là chủ yếu, vấn đề

Viêm ở đây không đáng kể vì dịch thấm lấy từ trong tai giữa ra đều vô trùng.

http://www.lobe.ca/site/images/qc_fr_c/photos_articles/Otitesetlasurdite_Vol3no39094c3608eb23.jpg

Triệu chứng.

Viêm tai giữa xuất tiết dịch thấm thường gặp ở phi công hoặc hành khách đi máy bay.

Triệu chứng chức năng :

Khi máy bay lao nhanh từ trên cao xuống người trên máy bay cảm thấy tai ít căng hoặc đau nhói. Độ nửa giờ sau cảm giác đau mất đi và chỉ còn lại cảm giác đầy tai.

Kèm theo đó bệnh nhân có ù tai, ù giọng trầm. Khi đi nện gót mạnh xuống đất nghe có tiếng vang trong tai.

Bệnh nhân bị điếc nhẹ: điếc giảm bởi khi bệnh nhân nuốt nước bọt hoặc hỉ mũi. Khi bệnh nhân nói thì lại nghe tiếng của mình vang lên trong tai. Khám bằng âm thoa cho thấy rằng điếc kiểu dẫn truyền. Trong một số ít trường hợp bệnh nhân có chóng mặt.

http://encyclopedie.chat-land.org/images/8/80/Otite.PNG

Triệu chứng thực thể :

Màng nhĩ màu hồng đôi khi ở dọc theo cán búa chúng ta thấy có mạch máu chảy dài từ trên xuống dưới.

một số bệnh nhân màng nhĩ không đỏ nhưng có mức nước ngang tầm rốn nhĩ hoặc những bong bóng không khí nhỏ bằng đầu đanh ghim rải rác ở mặt trong của màng nhĩ.

Màng nhĩ bị lõm vào trong với ba hiện tượng :

- Cán búa có xu hướng nằm ngang.

- Mỏm ngắn của cán búa nhô ra ngoài .

-Tam giác sáng thu hẹp lại thành hai vệt sáng hoặc có khi mất hẳn

Mằng Srapnen (Shrapnell) bị chùng nhiều hơn bình thường. Khi bơm không khí vào vòi ơxtasi bằng ống thông Ita thấy thuốc nghe tiếng thổi rít chứng tỏ cớ sự hẹp ở vòi hoặc tiếng ran ướt chứng tỏ trong hòm nhĩ có tiết dịch .

Biến diễn

Được điều trị bệnh sẽ khỏi trong vòng 3 đến 7 ngày. Nếu không điều trị bệnh có thể kéo dài và biến thành viêm tai xuất tiết mạn tính: Viêm tai sung huyết chuyển thành viêm tai mủ là một việc hiếm có .

Bệnh hay tái phát và sự tái phát có tác hại đến thính lực .

http://1.bp.blogspot.com/_-Xcd2OITRRI/SLFUkB9ZQyI/AAAAAAAAAHY/vz8tU2AoKTQ/s200/L_cholest.jpg

Điều trị .

1. Đưa không khí vào hòm nhĩ : bơm vào mũi bằng quả bóng Pôlitze hoặc vào vòi ơxtasi bằng ống thông Ita (xem cách làm ở phần những phương pháp điều trị đại cương về tai).

2. Tiêm atropin, sáng 1/4mg, chiều 1/4mg chống xuất tiết.

3. Nếu là viêm tai do dị ứng kéo dài chúng ta có thể tiêm hydrococtaxyn (1 ml) vào hòm nhĩ qua vòi ơxtasi (bằng ống thông Ita) hoặc qua màng nhĩ (tiêm vào gốc sau trên của màng nhĩ).

Trong trường hợp tiết nhầy đặc quánh chúng ta tiêm anpha chymotripxin (alpha chymotrypsine) vào hòm nhĩ để làm tan chất nhầy hoặc rạch nhĩ hút chất nhầy ra cũng được.

Nếu là viêm tai do u vòm mũi họng thì phải giải quyết nguyên nhân bệnh..

Phòng bệnh.

Không nên đi máy bay hoặc lặn xuống nước khi bị sổ mũi, ngạt mũi.

Nên nuốt nước bọt hoặc làm nghiệm pháp Vansava (Valsalva) khi bắt đầu có triệu chứng thiếu không khí trong tai (nhói trong tai, nghe kém)

http://www.arquivosdeorl.org.br/conteudo/imagesFORL/11-01-01-fig03-ing.jpg

VIÊM TAI GIỮA CẤP XUNG HUYẾT

(Oute aigue congestive)

Viêm tai giữa sung huyết, còn gọi là viêm tai giữa xuất tiết dịch rĩ, cùng là một loại mềm tai giữa cấp tính không mũ. Bệnh này ít khi được phát hiện vì triệu chứng nghèo nàn và thường bị các bệnh viêm đường hô hấp trên che mờ. Nguyên nhân chính của bệnh là viêm vòm mũi họng. Bệnh có thể gặp ở các lứa tuổi nhưng trẻ con dễ mắc hơn người lớn vì viêm mũi, viêm V.A lan vào vòi ơxtasi và làm tắc vòi. Vòi tắc sẽ gây ra xuất tiết hòm nhĩ và tạo điều kiện cho vi trùng phát triển .

Nhưng vi trùng ở đây ít mảnh độc, không đưa đến mưng mủ mà thường dừng lại ở giai đoạn dịch rỉ (exudate).

người lớn, viêm tai giữa xuất tiết dịch rỉ có thể thấy trong viêm mũi cấp (cảm) hoặc cúm hoặc viêm xoang cấp.

Triệu chứng

Đau tai là triệu chứng chính và và cũng là triệu chứng độc nhất. Thỉnh thoảng đau nhói trong một vài phút, đau sâu trong ống tai, đau lan xuống , hàm dưới, giống như đau răng. Lúc đầu đau nhiều về sau giảm dần. Đặc điểm của đau là không kéo dài nhưng hay tái diễn.

Các triệu chứng khác như là ù tai điếc, thường không có hoặc có rất ít, không làm cho bệnh nhân chú ý. Toàn thể trạng nói chung là tốt và phụ thuộc vào sự biến diễn của viêm VA viêm mũi, viêm xoang.

http://www.e-monsite.com/s/2008/02/20/orpac/oma-congestive-gf7he.jpg

Các triệu chứng thực thể cũng kín đáo.

Màng nhĩ hồng hơn bình thường, mạch máu bị giãn đỏ dọc theo cán búa. Tư thế của màng nhĩ có thay đổi : màng nhĩ bị lõm vào trong nhưng không rõ rệt như trong viêm tai giữa xuất tiết dịch thấm. Trong hòm nhĩ có tràn dịch, nhưng không nhìn thấy mức nước vì khối lượng ít. Tràn dịch này là dịch rĩ có tính chất viêm (phản ứng Rivalta dương tính).

Bệnh biến diễn trong một khoảng thời gian rồi khỏi. Mỗi lần em bé bị viêm mũi, viêm V.A. Thì hiện tượng đau xuất hiện trở lại. Trong một số trường hợp bệnh có thể chuyển thành viêm tai giữa mũ .

Điều trị

Điều trị cục bộ rất đơn giản để tự nhiên cơn đau cũng sẽ giảm. Để an ủi bệnh nhân hoặc thân nhân, người ta thường hay nhỏ glyxerin boratê ấm (40 0) vào tai, hai giờ một lần, mỗi lấn 5 giọt, hoặc chườm nước nóng vào tai ngoài.

Đốí với người lớn chúng ta uống thuốc giảm đau như aspririn, pramidon...

Chủ yếu là phải điều trị viêm mũi viêm V A, viêm xoang bằng nhỏ mũi, bằng xông thuốc bằng kháng sinh.

Sau đó độ mươi hôm, khi hiện tượng viêm cấp đã qua rồi và nếu tai có bị ù hoặc có cảm giác nặng thì chúng ta nên bơm không khí vào vòi ơxtasi.

Quan trọng nhất là phải điều trị nguyên nhân gây bệnh, đề phòng những đợt tái phát ; đối với trẻ em chúng ta nạo V.A., đối với người lớn chúng ta điều trị viêm xoang, mổ vẹo vách ngăn, cắt đuôi cuốn mũi quá phát...

http://www.lifespan.org/adam/graphics/images/es/19324.jpg

VIÊM TAI GIỮA CẤP TÍNH CÓ MỦ

Sách kinh điển định nghĩa viêm tai giữa cấp tính có mủ là mưng mủ ở hòm

Nhĩ, còn viêm xương chũm cấp tình là mưng mủ và viêm xương ở xương chũm.

Viêm xương chũm được coi như là một biến chứng của viêm tai giữa.

Thật ra các bộ phận của tai giữa như hòm nhĩ, sào bào, tế bào chũm đều ăn thông với nhau, nên mưng mủ ở tai giữa thường kèm theo viêm niêm mạc ở sào bào, do đó nếu quy trình viêm chỉ khu trú ở niêm mạc hòm nhĩ, hoặc có lan ra niêm mạc sào đạo, sào bào thì chúng ta vẫn gọi là viêm tai giữa, nhưng nếu quy trình viêm ăn sâu vào đến xương chũm thì chúng ta gọi là viêm tai xương chũm cấp. Giữa hai trạng thái bệnh lý này có những bước trung gian mà thầy thuốc cần phải biết vì nếu có bệnh tích xương chũm thì hướng điều trị sẽ khác .Để cho tiện việc trình bày, tôi xin theo phương pháp kinh điển tức là tách viêm tai giữa cấp tính có mủ ra khỏi viêm tai xương chũm cấp.

http://jnnp.bmj.com/content/75/suppl_4/iv32/F2.large.jpg

NGUYÊN NHÂN

Nguyên nhân chính của viêm tai giữa có mủ là viêm vòm mũi họng. Viêm vào tai bằng con đường vòi ơxtasi là chủ yếu, ít khi viêm nhiễm xâm nhập bằng đường máu hoặc đường bạch huyết. Sự viêm nhiễm này có thể gây ra bởi các bệnh nhiễm trùng toàn thân như cúm, sởi... hoặc những bệnh cục bộ như viêm mũi, viêm xoang, viêm V.A u vòm mũi họng, hoặc đút nút mũi sau để quá lâu.

Nói chung viêm tai giữa cấp tính thường gặp ở trẻ em có V.A. Hoặc có thể địa bạch huyết.

Rách màng nhĩ do chấn thương cũng là một nguyên nhân viêm tai giữa cấp tính.

CƠ THỂ BỆNH

Vi trùng gây bệnh thường là streptôcôc, pnơmôcôc, đặc biệt là loại pneumococcus mucosus. Ngoài ra chúng ta còn có thể thấy vi trùng Staphylôcôc, proteus, trực trùng PPeiffer. Trước khi màng nhĩ vỡ, chỉ có một loại vi trùng trong mủ. Sau khi màng nhĩ đã vỡ, nhiều loại vi trùng khác xâm nhập thêm vào.

Tính chất của mủ chảy ra thay đổi tùy theo giai đoạn của bệnh lúc đầu lỏng như thanh dịch, đôi khi có lẩn máu, sau biến thành vàng loãng, rồi vàng đặc ở thời kỳ toàn phát và cuối cùng trở nên trong sánh và keo thành sợi như tiết nhầy khi viêm sắp hết.

Bệnh tích chính là viêm niêm mạc hòm nhĩ niêm mạc trở nên dày, đỏ, chứa nhiều bạch cầu và tiết ra chất dịch rỉ có tính chất viêm rõ rệt (bạch cầu thoái hóa, anbumin nhiều...)

Đồng thời niêm mạc của vòi ơxtasi cũng bị viêm và nề làm cho sự thông thương của vòi bị hạn chế. Niêm mạc của sào bào và các tế bào chũm cũng tham gia vào quá trình viêm. Trong sào bào có thể có mủ nhưng chưa phải là viêm xương chũm.

http://faculty.washington.edu/alexbert/MEDEX/Fall/otitisExterna.jpg

TRIỆU CHỨNG

Bệnh cảnh của viêm tai giữa cấp tính thay đổi tùy theo tuổi tác của bệnh nhân, tùy theo vi trùng gây bệnh, tùy theo thể địa... Vì vậy chúng tôi tả thể điển hình trước và sau đó nói đến những thể lâm sàng.

1. Giai đoạn đầu :

Bệnh nhân thường là em bé đang bị sổ mũi, ngạt mũi, đột nhiên bị đau tai nhiều kèm theo sốt cao 40 0.

Khám màng nhĩ thấy một vùng sung huyết đỏ ở góc sau hoặc ở dọc theo cán búa, hoặc ở màng Srapnen.

2. Giai đoạn toàn phát.

Mủ bắt đấu xuất hiện trong hòm nhĩ.

A) Màng nhĩ chưa vỡ:

Mủ bị tích trong hòm tai như trong một cái apxe và gây ra những triệu chứng chức năng, toàn thân và thực thể rõ rệt.

Triệu chứng chức năng :

http://www.bris.ac.uk/Depts/ENT/otitis%20externa%20of%20stoddart.JPG

Đau tai mỗi ngày một tăng, đau rất nhiều, đau sâu trong tai, đau theo nhịp đập của mạch, đau lan ra sau tai, ra vùng thái dương hoặc xuống răng làm cho bệnh nhân không ngủ được.

- Điếc là triệu chứng quan trọng, thường xuyên có.

Điếc khá nhiều, điếc theo kiểu dẫn truyền tức là nghiệm pháp Svabach kéo dài, nghiệm pháp Rinơ âm tính, nghiệm pháp Vơbe thiên về bên bệnh (tam chứng Bezold). Bệnh nhân nghe giọng trầm khó khăn.

Ngoài ra chúng ta còn thấy những triệu chứng phụ như ù tai, cảm giác đầy tai, tự thính, chóng mặt...

Triệu chứng toàn thân :

Nhiệt độ lên cao và sẽ xuống khi mủ được dẫn lưu. Trẻ em nhỏ sốt cao có thể vật vã, co giật hoặc ở trạng thái lả.

Triệu chứng thực thể : Toàn bộ màng nhĩ bị nể và đỏ.Chúng ta không nhìn

Thấy tam giác sáng, không thấy cán búa, không thấy mỏm ngấn. Màu sắc của

Màng nhĩ hòa lẫn với màu sắc của da ống tai.

Ở mức độ nặng hơn màng nhĩ sẽ phồng lên như mặt kính đồng hồ đeo tay.

Điểm phồng nhiều nhất thường khu trú về phía sau.

Riêng đối vớ những màng nhĩ bị xơ hóa, màng nhĩ của người già, màu sắc sẽ không đỏ mà lại trắng bệch, có nhiều mạch máu đỏ tỏa ra từ cán búa như nan hoa bánh xe.

Xương chũm có vẻ bình thường, nhưng nếu chúng ta ấn vào đấy bệnh nhân sẽ kêu đau. Hiện tượng này không có gì đáng ngại nó chỉ là viêm niêm mạc ở sào bào và ở các tế bào mà người ta quen gọi là phản ứng xương chũm.

Khám mũi và họng có thể cho chúng ta thấy nguyên nhân của bệnh viêm mũi, viêm xoang, viêm V.A viêm amyđan.

http://www.pedisurg.com/PtEducENT/normal_TM_and_AOM.jpg

B) Màng nhĩ vỡ :

Màng nhĩ có thể vỡ do thầy thuốc chích để tháo mủ, hoặc vỡ tự phát do sức ép của mủ vào khoảng ngày thứ tư. Để cho màng nhĩ tự vỡ lấy không tốt bằng chích rạch vì hai lý do sau đây :

Lỗ vỡ xuất hiện muộn, mủ tích tụ trong nhiều ngày có khả năng gây ra bệnh tích xương.

Lỗ vỡ thường ở cao và nhỏ, dẫn lưu mủ không được tốt, tạo điều kiện cho viêm kéo dài.

Khi màng nhĩ đã vỡ và mủ chảy ra ngoài thì các triệu chứng sẽ thay đổi.

Triệu chứng chức năng và toàn thân: các triệu chứng chức năng bớt hẳn,bệnh nhân không đau tai nữa, nhiệt độ trở lại bình thường, bệnh nhân ăn được ngủ được.

http://www.fpnotebook.com/_media/EntOtomycosis.jpg

Triệu chứng thực thể

Ống tai ngoài đầy mủ, không có mùi ; lúc đầu chỉ là mủ loãng màu vàng nhạt sau biến thành mủ vàng đặc. Cần phải chùi sạch mủ mới thấy được màng nhĩ.

Lỗ thủng của màng nhĩ sẽ khác nhau tùy theo tai có được chích rạch hay không.

Nếu có chích rạch thì lỗ thủng sẽ rộng và ở về góc sau dưới của màng .

Mang nhĩ hết phổng.

Khi bệnh nhân ngậm mồm bịt mũi và thổi mạnh vào vòi ơxtasi (nghiệm pháp Valsalva) thì mủ và bọt trào ra ở lỗ thủng, đồng thời chúng ta nghe có tiếng kêu trong tai của bệnh nhân.

Nếu không chích rạch, để cho màng nhĩ tự vỡ thì lỗ thủng có thể ở bất cứ chỗ nào, bờ dày, đỏ, nham nhở. Trong trường hợp lỗ thủng lớn, mủ được dẫn lưu tốt chúng ta thấy có những triệu chứng giống như là chích rạch. Trái lại nếu lỗ thủng nhỏ, sự dẫn lưu bị hạn chế và triệu chứng ứ đọng tồn tại : đau nhức, sốt, phồng màng nhĩ ; làm nghiệm pháp Vansava không thấy mủ trào ra ở lỗ thủng.

Có khi lỗ thủng nhỏ bằng đầu kim và thể hiện bằng một chấm mủ óng ánh đập theo nhịp mạch. Lỗ thủng có thể ở góc sau và trên màng nhĩ, trên một cái ụ phồng căng giống như cái vú bò .

Riêng trong trường hợp viêm tai do cúm, do sởi, do bạch hầu, màng nhĩ có thể bị tiêu hủy toàn bộ.

3. Biến diễn.

Nếu mủ được dẫn lưu tốt, nếu cơ thể có sức đề kháng cao thì viêm tai giữa cấp tính mủ có xu hướng đi đến lành bệnh. Trường hợp này thường gặp ở những trẻ em khỏe, được chích rạch màng nhĩ kịp thời. Sau vài tuần mủ bớt dần, trở nên trong, sánh như nhựa chuối và cuối cùng hết hẳn vào tuần thứ ba ; bệnh nhân cũng nghe rõ trở lại. Màng nhĩ hết đỏ và trở thành xám. Các mạch máu tỏa chung quanh cán búa xuất hiện trở lại trong vòng năm ba ngày, rồi biến mất. Màu ngắn và cán búa rõ dần. Lỗ thủng thường được hàn kín lại ; thính lực trở lại bình thường.

Nếu mủ không được dẫn lưu tốt, nếu mảnh độc của vi trùng quá mạnh, bệnh sẽ kéo dài hoặc sinh ra biến chứng.

BIẾN CHỨNG

Có những biến chứng cấp tính và những biến chứng kéo dài.

Biến chứng cấp tính thường rất nặng và chúng ta sẽ nghiên cứu riêng từng biến chứng một trong những phần sau. Biến chứng phổ biến và quan trọng nhất là viêm xương chum từ đấy quy trình viêm sẽ tràn lan ra các bộ phận khác gây ra viêm mê nhĩ, liệt dây thần kinh mặt, viêm tắc tĩnh mạch bên, viêm màng não, apxe não... Đôi khi quá trình viêm nhiễm không tràn lan bằng đường xương mà qua đường máu dễ gây những biến chứng nội sọ kể trên.

Biến chứng kéo dài, hay nói cho đúng hơn sự chuyển thành viêm tai mạn tính là hậu quả của việc không điều trị hoặc điều trị không đúng. Thể địa của bệnh nhân cũng đóng một vai trò quan trọng trong sự chuyễn biến thành mạn tính viêm mũi, viêm xoang, viêm V.A.Viêm tai giữa cấp tính có mủ có thể để lại những di chứng như : lỗ thủng không hàn lại, màng nhĩ dính vào hòm nhĩ, cứng khớp các tiểu cốt, xơ nhĩ (tympanosclcrose).

Những biến chứng này thường gặp ở những trường hợp không được điều trị, không được theo dõi.

TIÊN LƯỢNG

Tiên lượng nói chung không nặng.

Về mặt sinh mạng, nếu chúng ta phát hiện kịp thời những biến chứng nội sọ và nếu chúng ta dùng kháng sinh đúng mức thì không có gì đáng ngại. Nhưng riêng trong trường hợp bệnh nhân đã bị vỡ Xương đá cũ, viêm tai giữa mủ cấp tính hay đưa đến viêm màng não thậm cấp mà các phương tiện điều trị hiện nay thường là bất lực.

Về mặt chức năng, sự phục hồi lại hoàn toàn chức năng nghe là hiện tượng phổ biến trừ những trường hợp có biến chứng như viêm mê nhĩ hoặc xơ dính trong hòm nhĩ..

CÁC THỂ LÂM SÀNG

Chúng tôi vừa nói qua thể điển hình của viêm tai giữa mủ cấp tính, bên cạnh đó có rất nhiều thể lâm sàng khác nhau do tuổi tác, thể địa của bệnh nhân, do bản chất của vi trùng, do sự khu trú của bệnh tích.

1. Viêm tai giữa ở hài nhi.

Tai giữa của hài nhi dễ bị viêm vì những đặc điểm sau đây :

- Vòi ơxtasi ngắn và rộng, mủ ở vòm mũi họng dễ xâm nhập vào tai.

- Chung quanh mạc treo của tiểu cốt còn có nhiều chất thâm nhiễm dạng thạch

(Infỉltrat gélaliniforme) chưa tan hết.

Sự phân bố mạch máu rất nhiều ở chung quanh sào bào.

Bệnh cảnh của viêm tai giữa cấp tính ở hài nhi thường thay đổi tùy theo sức đề kháng của bệnh nhân và được phân ra làm hai loại : thể khỏe và thể suy yếu

A) Thể khỏe :

Thể khỏe thường gặp ở hài nhi bụ bẫm, bú sữa mẹ. Nhờ sức đề kháng cao nên bệnh khu trú và biến diễn một cách rõ rệt. Em bé sốt 38 - 390, nôn, bỏ bú, hay quấy khóc, tối không ngủ. Bệnh thường khu trú ở một bên. Khám tai thấy màng nhĩ đỏ, nên, cớ nhiều tia máu hoặc xám với những chấm óng ánh như hạt sương. Xem màng nhĩ của hai nhĩ rất khó vì ống tai : hẹp có nhiều lông tơ, vì màng nhĩ quá nghiêng, vì màu sắc trở nên đỏ khi em bé khóc. Thường phải bôi Vaelin và dùng kính lúp mới thấy được chi tiết. Nếu màng nhĩ được chích rạch sớm thì bệnh sẽ khỏi trong thời gian ngắn (hai tuần) .

B) Th suy yếu :

Thể suy yếu thường thấy ở vườn trẻ thiếu vệ sinh, ở hài nhi không được bú sữa mẹ hay bỉ rối loạn đường tiêu hóa , bệnh thường ở cả hai tai và các triệu chứng lu mờ.Bệnh bắt đầu bằng sốt, chảy mũi, ngạt mũi, bỏ bú, thường có cả triệu chứng tiêu hóa (đi tiểu, mất nước, tụt cân...).

Các nhà nhi khoa hay nhấn mạnh vào các triệu chứng như lắc đầu, lúc thì đỏ mặt lúc thì tái mặt.

Hình ảnh của màng nhĩ phức tạp : có khi màng nhĩ đỏ mà lại không có mủ trong hòm nhĩ hoặc ngược lại màng nhĩ trắng đục nhưng lại có mủ. Không nên chờ đợi triệu chứng căng phồng màng nhĩ. Ở hài nhi vì màng nhĩ đây đày Hìmh ảnh được nhiều tác giả nhắc đến là màng nhĩ mất tam giác sáng, biểu mô nhăn như giấy vò nát hoặc có những hạt óng ánh như hạt sương.

Nói chung trong thể viêm tai cấp tính suy nhược, hình ảnh của màng nhĩ không thống nhất. Những triệu chứng mà các sách kinh điển thường hay nhắc đến là không thống nhất thay đổi màu sắc ở mặt một cách đột ngột, ấn vào bình tai đau, em bé hay lắc đầu chỉ có giá trị gợi ý.

Trên thực tế nếu chúng ta thấy hình ảnh màng nhĩ khả nghi thì nên chích rạch màng nhĩ càng sớm càng tốt. Nếu được điều trị kịp thời và đúng mức, thể viêm này cũng có thể khỏi trong vài ba tuần. Nhưng cũng cần phải theo dõi sau khi chích rạch, vì hiện tượng ứ đọng mủ do tắc lỗ rạch cũng thường hay gặp.

Nếu không được điều trị, viêm tai giữa cấp tính thể suy nhược sẽ đưa đến những biến chứng như viêm sào bào, viêm tai xương chũm hài nhi kèm theo nhiễm độc thần kinh. Sự xuất hiện của viêm tai sào bào (oto-antrite) được thể hiện trên lâm sàng bằng những triệu chứng sau đây : sốt cao, gây tọp rất nhanh, nôn mửa thường xuyên, ỉa chảy nhiều lần, thở nóng và nhanh, mạch nhanh, yếu, thỉnh thoảng lên cơn giật. Bệnh cảnh có nặng nhưng chưa đến nỗi tuyệt vọng : phẫu thuật mở sào bào kèm theo hồi sức có thể cứu được bệnh nhân.

Viêm tai xương chũm hài nhi sẽ được trình bày ở một bài riêng.

2. Vlêm tai giữa cấp tính ở trẻ em (thời kỳ thiếu nhi thứ hai).

Viêm tai cấp tính trẻ em có triệu chứng ở ạt và thường xuất hiện sau bệnh nhiễm trùng nặng (cúm) hoặc bệnh sởi. Bệnh bắt đầu đột ngột với nhiệt độ cao (400) kèm theo nôn, cứng gáy, co giật.

Bệnh hay đưa đến biến chứng viêm xương chũm.

3. Viêm tai giữa cấp tính ở người già:

Thể này ít gặp bệnh biến diễn theo kiểu bán cấp, các triệu chứng toàn thân khống ồ ạt và lỗ thủng xuất hiện muộn. Hình dáng của màng nhĩ trước khi thủng cũng không điển hình : màng nhĩ chỉ đỏ ở phía sau hoặc có nhiều mạch máu đỏ dọc theo cán búa. Hiện lượng căng phòng rất hiếm có.

Chỉ định chích rạch màng nhĩ dựa vào hai triệu chứng : đau và giảm thính lực

4. Thể khu trú.

Viêm nhiễm có thể khu trú ở một phần của hòm nhĩ bởi mạc treo hoặc dây chằng ngăn chặn. Loại viêm tai giữa khu trú này có tính chất bán cấp và ít triệu chứng toàn thân nhưng hay làm đau nhức.Có hai loại đáng lưu ý : viêm túi Trônsơ (Trõlsech) và viêm túi Prutsăc (Prussak).

A) Vêm túi Trônsơ (Viêm thượng nhĩ trong).

Túi Trônsơ ở dưới dây chằng nhĩ búa sau. Khi túi này bị viêm thì phần tư sau trên của màng nhĩ sẽ căng phồng và đỏ, trong khi đó phần còn lại của màng nhĩ có vẻ bình thường, tam giác sáng vẫn tồn tại. Bệnh nhân đau nhức trong tai và nghe kém. Sau ít hôm túi mủ sẽ vỡ. Bệnh có thể khỏi nhanh chóng hoặc biến thành viêm tai mạn tính.

Trước một lỗ thủng ở góc sau và trên chúng ta phải dè dặt : lỗ thủng có thể che đậy một ổ viêm thượng nhĩ hoặc xương chũm.

B) Viêm túi Prutsăc (Viêm thượng nhĩ ngoài).

Túi Prutsăc là khoảng cách rỗng ở ngang tầm cổ xương búa và được bịt kín bằng màng Srapnen. Túi Prutsăc ăn thông với ngăn Kretmalt (Kretschmann). Ở phía trên (tức là khoảng cách giữa đầu búa và tường thượng nhĩ). Viêm túi Prutsăc là 1 sự thể hiện lâm sàng của viêm thượng nhĩ. Các triệu chứng toàn thân và' chức năng không rõ rệt : không sốt, không điếc, không đau tai. Bệnh nhân chỉ kêu nhức nửa bên đầu.

Phần căng của màng nhĩ có vẻ bình thường. Nhưng màng Srapnen thì đỏ và căng. Có khi màng này bị thổi phồng lên giống như một cái polyp che lấp phần trên của màng nhĩ. Túi mủ sẽ vỡ ra nhưng sự dẫn lưu không được tốt lắm, vì lỗ thủng nhỏ chỉ bằng đầu kim, khó nhìn thấy.

Trên thực tế trước một màng nhĩ có vẽ bình thường nhưng ống tai lại rỉ mủ, chúng ta phải lau sạch toàn bộ màng nhĩ rồi dùng kính lúp soi màng Srapnen.

Trong đa số trường hợp chúng ta sẽ thấy lỗ thủng rất nhỏ, bị che đậy bởi một cái vảy con. Đó là viêm thượng nhĩ.

Bệnh có xu hướng biến thành mạn tính do sự thờ ơ của bệnh nhân hoặc do sự chẩn đoán nhầm của thầy thuốc.

5. Viêm tai giữa cấp do các bệnh nhiễm trùng nặng.

Những bệnh nhiễm trùng nặng (cúm) hoặc những bệnh sốt phát ban thường hay gây ra một thể viêm tai cấp đặc biệt.

Trong viêm tai cúm, triệu chứng toàn thân khá nặng : sốt cao, mất ngủ, mệt nhọc. Bệnh nhân kêu đau nhói trong tai hoặc nhức đầu nhiều.

Khi khám tai thấy ở màng nhĩ hoặc ở thành ống tai ngoài có những phỏng nước màu nâu hoặc tím đen chứa thanh dịch lẫn máu. Màu sắc của màng nhĩ có khi bị biến đổi, trở thành xanh chàm, chứng tỏ có xuất huyết trong hòm nhĩ. Sau đó màng nhĩ sẽ thủng và lỗ thủng tương đối rộng, ít khi hàn lại được.

Viêm tai giữa cấp tính hoại tử.

Chúng ta gặp viêm tai giữa hoại tử trong các bệnh sỏi, cúm, bạch hầu, Scaclatin. Vi trùng gây bệnh thường là Streptôcôc. Đặc điểm của bệnh tích là sự hoại tử rất nhanh của các tổ chức (biểu mô, dưới biểu mô và cả cốt mạc).

Trong những ngày đầu, màng nhĩ chỉ đỏ vừa và nề, không phồng, không đau lắm. Nhưng độ vài hôm sau màng nhĩ lại thủng lỗ thủng lan rộng nhanh chóng và tiêu hủy toàn bộ màng nhĩ. Tiểu cốt cũng bị hoại tử. Mủ lúc đầu không thối nhưng độ mươi hôm sau có mùi thối. Thể này thường đưa đến biến chứng viêm xương chũm với mảnh xương mục và có thể kéo dài khá lâu.

Kháng sinh có tác dụng tốt đối với loại viêm tai này nếu được dùng sớm trước khi xương chũm biến thành xương mục.

6. Viêm tai do vi trùng Pneumoceccus mucosus.

Thể này thường gặp ở những bệnh nhân có tuổi. Đặc điểm của bệnh là biến diễn âm thầm và chỉ có vài triệu chứng chức năng : chảy nước tai và nghe kém.

Bệnh sẽ đưa đến viêm xương chũm trong đại đa số trường hợp.

CHẨN ĐOÁN

Trong chẩn đoán viêm tai giữa cấp có ba vân để quan trọng : đừng bỏ sót viêm tai giữa cấp, đừng nhầm với viêm tai giữa cấp với những bệnh khác, đừng ,thấm với viêm tai giữa mạn tính hơi viêm.

1. Đừng bỏ sót viêm tai giữa cấp tính.

Ở trẻ em nhỏ và nhất là ở hài nhi, viêm tai giữa cấp tính ít khi được phát hiện kịp thời. Do đó chúng ta phải khám tai cho tất cả các em bé bị sốt không có nguyên nhân rõ rệt, những hài nhi ỉa chảy và nôn hoặc có những triệu chứng màng não.

2. Đừng nhầm với các bệnh khác :

A) Nếu ống tai ngoài rộng: chúng ta có thể nhìn thấy màng nhĩ và loại ra các bệnh như nhọt ống tai ngoài, viêm màng nhĩ, eczêma ống tai ngoài...

- Eczêma ống tai ngoài của trẻ em tương đối khó chẩn đoán vì màng nhĩ đôi khi cũng bị nề và mất bóng. Trong trường hợp khả nghi nên đặt vào tai một cái bấc thấm nitrat bạc 2% trong 24 giờ : nếu là eczêma thì bệnh tích màng nhĩ sẽ giảm, nếu là viêm tai giữa thì bệnh tích sẽ tăng lên. Ở người lớn, viêm thượng nhĩ với lỗ thủng rất nhỏ có thể làm cho chúng ta nhầm với eczêma.

- Trong viêm màng nhĩ đơn thuần chúng ta chỉ thấy màng nhĩ đỏ, sung huyết, không có điếc, không có triệu chứng toàn thân.

- Trong nhọt ống tai ngoài, bệnh nhân có những điểm đau khác biệt ở nắp tai, ở rãnh trước xương chũm, ở bờ trên ống tai (kéo vành tai).

- Ngoài ra chúng ta còn có thể nhầm với zôna tai. Zôna cũng gây ra đau tai, chảy tai và điếc. Nhưng trong zôna chúng ta thấy có mụn nước ở nắp tai, vành tai,ở thành sau ống tai và ở màng nhĩ kèm theo giảm cảm giác da ở vùng nói trên (vùng Ramsay-Hunt). Những mụn nước này sẽ khô đi và biến thành vảy nâu.

B) Nếu ống tai ngoài bị tắc do viêm thì vấn đề đặt ra là phân biệt viêm ống tai ngoài đơn thuần với viêm tai giữa kèm theo viêm ống tai ngoài, Ở đây chúng ta không soi màng nhĩ được nên không thể dựa vào đó để chẩn đoán. Nhưng chúng ta có hai cách phân loại :

Một là đặt spêculum nhỏ, cỡ hài nhi vào tai bệnh và thử sức nghe của bệnh nhân bằng tiếng nói thấm ; nếu bệnh nhân nghe rõ thì không có viêm tai giữa, nếu nghe kém thì có viêm tai giữa.

Hai là điều trị thử bằng kháng sinh, sau vài ba hôm, ống tai ngoài bớt nề, chúng ta có thể nhìn thấy được màng nhĩ và đánh giá tai giữa.

3. Đừng nhầm với viêm tai giữa mạn tính viêm.

Trong viêm tai giữa mạn tính hồi viêm, bệnh nhân có tiền sử chảy mủ tai từ lâu, có triệu chứng thực thể mạn tính như bờ lỗ thủng rõ rệt, mủ thối khẳn, cholestêatôma mấp mé ở lỗ thủng, polyp ở ống tai, xương bị viêm và bộc lộ.

X quang rất cần thiết để khám phá bệnh tích của xương chũm trong viêm tai giữa mạn tính hồi viêm. Hướng điều trị của bệnh này khác hẳn với viêm tai giữa cấp tính.

ĐIỀU TRỊ

Tùy theo màng nhĩ có thủng hay chưa, cách điều trị có khác nhau.

1. Màng nhĩ chưa thủng.

A) Điều trị bằng thuốc :

Ngay trong ngày đầu màng nhĩ chưa phồng và chưa có triệu chứng toàn thân, chúng ta có thể làm giảm sung huyết bằng chườm nước nóng ngoài tai hoặc nhỏ adrenalin pha với glyxerin ấm 400 vào ống tai. Thuốc này không vào đến hôm nhĩ vì màng nhĩ chưa vỡ nhưng nó có tác dụng tâm lý. Nên nhỏ algyrôl vào mũi.

Có thể cho uống sunfamit được nhưng không nên dùng kháng sinh (pênixilin, aureomyxin...) trước khi chích rạch màng nhĩ, . Vì những thuốc này sẽ làm mờ các triệu chứng viêm, không dập tất hẳn bệnh và dẫn đến thể bệnh tiềm tàng.

B) Chích rạch màng nhĩ :

Chúng ta phải chích rạch màng nhĩ trong những trường hợp sau đây :

- Triệu chứng toàn thân xấu : nhiệt độ cao, mất ngủ, bộ mặt nhiễm trùng.

Ở hài nhi bị viêm tai, khi có triệu chứng sốt, nôn, ỉa chảy, chúng ta phải chích rạch màng nhĩ.


- Triệu chứng chức năng quá rõ rệt : đau tai, nhức nửa bên đầu và điếc. một bệnh nhân trước kia thính lực bình thường bây giờ bị viêm tai và nghe tiếng nói thầm dưới 10 cm, chúng ta phải nghĩ đến có mủ hoặc tiết dịch trong hòm nhĩ.

- Triệu chứng thực thể nói lên có mủ trong hòm nhĩ : màng nhĩ căng phồng như mặt kính đồng hồ đeo tay.

Có những phản ứng đáng ngại như triệu chứng màng não, triệu chứng mê nhĩ, triệu chứng viêm xương chũm.

Viêm tai giữa cấp tính đã kéo dài trên bốn ngày rồi và không tự vở.

Nói chung trong trường hợp nghi ngờ có mủ chúng ta nên chích rạch màng nhĩ, thà chích rạch vô công (không có mủ) còn hơn là để cho viêm mủ tiến vào xương chũm. Cách chích rạch màng nhĩ.

Gây tê : đối với người lớn nên đặt một cái bấc nhỏ thấm Bônanh vào sát màng nhĩ. Khi màng nhĩ nên trắng bệch chúng ta bắt đầu chích rạch. Đối trẻ em nên gây mê bằng êtyl clorua. Riêng đối với hài nhi chúng ta không gây tê mà cũng không gây mê, chỉ dùng khăn quân chặt em bé lại và giao cho mẹ bế. Trong khi đó y tá giữ đầu không cho bệnh nhân giãy dụa

- Kỹ thuật : Phẫu thuật viên tập trung ánh sáng đèn clar vào màng nhĩ.

Tay trái đặt cái spcêulum lớn nhất mà ống tai có thể chịu được vào lỗ tai bệnh.


Tay phải cầm dao chích nhĩ loại khuỷu rạch một đường dọc dài 3 mm (từ góc tư sau dưới lên góc tư sau trên) giữa cán búa và khung nhĩ. Trong trường hợp lỗ rạch có xu hướng đóng lại quá sớm, chúng ta nên rạch thêm một đường nằm dưới cán búa.

Rạch xong, có máu và mủ chảy ra, chúng ta đặt một cái tăng (tente) bằng gạc có thấm kháng sinh hoặc mecurôcrôm vào ống tai ngoài. Cái tang này sẽ được rut ra sau 24 giờ.

Sau khi rạch nhĩ các triệu chứng sốt, đau, ỉa chảy... sẽ giảm nhanh chóng.

Chích rạch màng nhĩ không gây ra điếc vì màng nhĩ sẽ lành lại và không có sẹo. Nói chung người ta ít thấy tai biến trong thủ thuật chích rạch màng nhĩ. Nhưng nếu em bé giãy dụa, mũi dao có thể làm rách màng nhĩ lung tung kèm theo sai khớp các tiểu cốt, hoặc trầy da ống tai. Biến chứng rách vịnh cánh chỉ thấy trong trường hợp dị hình bẩm sinh mà vịnh cảnh chui vào trong hòm nhĩ. Gặp trường hợp đó chúng ta cầm máu bằng cách nhét bấc nhỏ vào tai.

2. Màng nhĩ đã thủng.

Sau khi màng nhĩ đã thủng tự nhiên hoặc thủng do thầy thuốc chích rạch chúng ta phải làm thuốc tai hàng ngày. Có hai cách làm thuốc làm thuốc khô và làm thuốc ướt.

A) Làm thuốc khô

Phương pháp làm thuốc khô phải được thầy thuốc chuyên khoa thực hiện.

Thầy thuốc dùng que bông hoặc kẹp khuỷu Pôlitze chùi sạch ống tai ngoài và màng nhĩ hoặc dùng máy hút sạch mủ. Xong rồi đặt vào ống tai một cái tăng hoặc bấc nhờ có thấm thuốc kháng sinh (bột cloramphenicon). Cuối cùng chúng ta nhét vào cửa tai một cục bông sạch to bằng đầu ngón tay.

B) Làm thuốc tươi :

Phương pháp làm thuốc ướt có thể do người nhà bệnh nhân thực hiện. Bình thường nên làm mỗi ngày hai lần, nhưng nếu mủ chảy nhiều chúng ta có thể làm ba bốn lần.

Đầu tiên chúng ta chùi sạch vành tai và cửa tai bằng cồn 90 độ. Sau đó chúng ta để bệnh nhân ngả đầu lên bàn hướng tai bệnh lên trên và chúng ta nhỏ vào ống tai năm giọt thuốc sau đây :

Nước oxy 12 thể tích 40g

Dung dịch borat natri 2% 60g

Đợi hai phút bọt sẽ sùi lên. Dùng bông thám hết bọt và thuốc thừa. Nhỏ lại năm giọt thuốc nữa vào tai, đợi vài phút cho nó sùi bọt lên rồi chùi tai. Làm như vậy ba lần. Mủ tiết nhầy trong ống tai bị đẩy ra ngoài và chùi sạch. Sau khi lau khô ống tai chúng ta có thế nhỏ vào tai vài giọt penixilin hoặc hỗn dịch cloramphenicon hoặc văcxin chống vi trùng gây mủ và đặt vào cửa tai một cục hông bằng đầu ngón tay. Cục hông này sẽ được thay mỗi khi nó bị mủ thấm ướt.

Nhiệm vụ của thầy thuốc là phải theo dõi tình hình của lỗ thủng và các triệu chứng toàn thân. Nếu. Thấy lỗ thủng đóng lại nhưng bệnh nhân sốt và đau tai thì phải chích rạch lại dễ dẫn lưu.

Nếu sau bốn tuần mà mủ vẫn tiếp tục chảy, chúng ta phải nghĩ đến các nguyên nhân sau đây và tìm cách giải quyết.

Viêm mũi xoang, viêm vòm mũi họng (V.A), viêm xương chũm, toàn thể trạng suy nhược.Trong trường hợp viêm tai giữa cấp tính kéo dài chúng ta nên bơm hyđrococtison và clolamphcnicon vào hòm nhĩ qua lỗ thủng.

Cách làm : trong một cái hòm tiêm 5ml chúng ta trộn 50mg bột cloramphêmcon vào 1ml hydrococtison rồi lắc cho đều và nhỏ tất cả thuốc đó vào ống tai, bệnh nhân ngả đầu lên bàn hướng tai bệnh lên trên. Xong rồi dùng spêculum Siecglơ đặt vào ống tai bơm mạnh đẩy thuốc vào hòm nhĩ và vòi ơxtasí. Khi thuốc và không khí vượt qua vòi chúng ta nghe một tiếng kêu ót đặc hiệu, đồng thời bệnh nhân cũng kêu đắng miệng. Mỗi ngày chúng ta bơm một lần.Nếu lỗ thủng nhỏ bằng đầu kim, không bơm thuốc được thì chúng ta tiêm thuốc trực tiếp vào hòm nhĩ qua góc phần tư dưới sau của màng nhĩ. Nên dùng kim dài 8cm, cỡ to và mép vạt ngắn. Ba ngày tiêm một lần.

3. Điều trị toàn thân.

Ở một số bệnh nhân sau khi chích rạch màng nhĩ rồi mủ chảy ra nhiều nhưng bệnh vẫn tiếp tục tiến triển ; sốt không giảm, đau tăng lên, các triệu chứng tiêu hóa như nôn, ỉa chảy không bớt... ta phải dùng thêm thuốc kháng sinh.

Chúng ta có thể phối hợp sunfamit với pênixilin theo liều lượng thông thường từ 200.000 đến 1.000.000 đơn vị tùy theo tuổi. Hoặc dùng aurêômvxin phối hợp với sunfmit,hoặc dùng tctraxyclin, hoặc cloramlthênicon uống..? theo kháng sinh đồ.

Trong khi dùng kháng sinh, chúng ta nên chụp X quang xương chũm để phát hiện viêm xương chũm tiềm tàng.

Nhớ nhỏ mũi với acgvrol 3% mỗi ngày 3 lần, mỗi lần ba giọt.

Theo ý chúng tôi, thầy thuốc chỉ nên sử dụng thuốc kháng sinh sau khi đã chích rạch màng nhĩ. Và thuốc kháng sinh chỉ cần thiết khi bệnh kéo dài hoặc có đe dọa biến chứng.

Bệnh viêm tai giữa cấp tính bình thường có thể điều trị khỏi bằng chích rạch màng nhĩ mà không cán uống hoặc tiêm kháng sinh.

Dùng kháng sinh bừa bãi có thể làm hại hơn là làm lợi cho bệnh nhân (viêm xương chũm tiềm tàng).

PHÒNG BỆNH

Tuyệt đối không sổ mũi bằng cách bịt cả hai lỗ mũi cùng một lúc, phải bịt một bê và để hở bên kia cho mũi và tiết dịch thoát ra ngoài.

Không nên bơi lội, lặn hụp khi bị viêm mũi, viêm xoang.

Nên điều trị viêm mũi, viêm xoang càng sớm càng tốt.

Nên nạo V.A. Và cắt amydan ở những em bé hay bị viêm tai tái phát.

Nên điều trị thể địa bạch huyết bằng canxi, vitamin D2 dung dịch Faolơ (liqueur de Fowler), acsenic, iodôtanic phốtphatê...

những em bé bị sởi, bị cúm, bị thương hàn, chúng ta phải luôn luôn nhỏ thuốc sát trùng vào mũi (dầu gômênon, argyrôn...) và khám màng nhĩ thường xuyên.

Bộ Môn Tai Mũi Họng ĐH Y Dược TPHCM

-----------------------------------

Giảng Đường Y Khoa

http://giangduongykhoa.blogspot.com

http://giangduongykhoa.net

-----------------------------------

0 nhận xét:

Đăng nhận xét

Cám ơn bạn đã đọc bài viết. Bạn có ý kiến, tư liệu hoặc thông tin hay hơn hãy để lại vài lời để cùng chia sẻ với mọi người.

Xin lưu ý bạn, các nhận xét không có tinh thần góp ý xây dựng hay giúp đỡ nhau cùng tiến bộ sẽ bị xóa mà không cần báo trước.

Thêm vào đó, bạn không nhất thiết phải là thành viên của Google Blogger hay các mạng được liệt kê phía dưới mới được nhận xét, hãy sử dụng anonymous (Ẩn danh) nếu bạn không muốn để lại thông tin cá nhân của mình.

Nội dung gõ bằng tiếng Việt có dấu rõ ràng sẽ dễ chiếm thiện cảm hơn cả.
giangduongykhoa.net

MedicineNet Daily News

Medscape Medical News Headlines

WebMD Health

National Institutes of Health (NIH) News Releases