Tìm bài viết trong Giảng Đường Y Khoa

Đang tải...

Viêm nội tâm mạc nhiễm trùng do cầu khuẩn Gram dương kháng thuốc

Những thay đổi gần đây về mặt dịch tễ học của viêm nội tâm mạc nhiễm trùng

Hiện nay y giới đang chứng kiến một sự thay đổi diện mạo của viêm nội tâm mạc nhiễm trùng (VNTMNT) tại các quốc gia Âu Mỹ. Cho đến cuối thập niên 1970, bệnh van tim hậu thấp và bệnh tim bẩm sinh tím là 2 nhóm bệnh tim nền thường gặp nhất ở những bệnh nhân VNTMNT tại các quốc gia này. Sau đó các bệnh van tim hậu thấp đã dần dần biến mất. Tuy nhiên bù lại có nhiều yếu tố tạo thuận lợi khác xuất hiện và tăng nhanh như việc tiêm chích ma túy đường tĩnh mạch, phẫu thuật thay van tim nhân tạo, bệnh van tim thoái hóa (ở người lớn tuổi) và các thủ thuật xâm nhập có nguy cơ gây du khuẩn huyết. Các thay đổi này đưa đến một số hậu quả như sau : (1) Tần suất mắc phải VNTMNT không giảm ; (2) VNTMNT trở nên đa dạng hơn về cơ địa nền ; và (3) Diện mạo vi sinh học của VNTMNT có một số khác biệt so với trước đây 1.

Trước đây dựa vào cơ địa nền, VNTMNT thường được phân thành 2 dạng là VNTMNT trên van nguyên gốc (native valve endocarditis) và VNTMNT trên van nhân tạo (prosthetic valve endocarditis). Ngày nay cách phân loại này không còn phù hợp. Hiện nay đa số tác giả đề nghị chia VNTMNT thành 4 dạng là VNTMNT trên van nguyên gốc, VNTMNT trên van nhân tạo, VNTMNT ở người tiêm chích tĩnh mạch (endocarditis in intravenous drug users) và VNTMNT liên quan với chăm sóc y tế (healthcare-related endocarditis) 1,2. Cụm từ “liên quan với chăm sóc y tế” có ý nghĩa rộng hơn là “mắc phải trong bệnh viện” (nosocomial). VNTMNT liên quan với chăm sóc y tế bao gồm cả những trường hợp VNTMNT xuất hiện ở người được chăm sóc y tế ngoại trú, ví dụ : (1) đã từng được truyền dịch, chăm sóc vết thương, vết mổ hoặc chăm sóc điều dưỡng đặc biệt tại nhà trong vòng 30 ngày trước khi bắt đầu có triệu chứng VNTMNT ; (2) đã từng đến một bệnh viện hoặc một đơn vị thận nhân tạo hoặc đã từng được hóa trị liệu đường tĩnh mạch trong vòng 30 ngày trước khi bắt đầu có triệu chứng VNTMNT ; (3) đã từng nhập viện ít nhất 2 ngày trong vòng 90 ngày trước khi bắt đầu có triệu chứng VNTMNT ; hoặc (4) đang sống trong một trại điều dưỡng 3.
Về mặt vi sinh học, các nghiên cứu gần đây cho thấy cầu khuẩn Gram dương vẫn là những tác nhân gây bệnh chính (hơn 80% các trường hợp VNTMNT) 2. Tuy nhiên đã có một sự thay đổi vị trí giữa tụ cầu khuẩn (staphylococcus) và liên cầu khuẩn (streptococcus). Nếu như trước đây liên cầu khuẩn luôn đứng hàng đầu trong số các tác nhân gây VNTMNT, hiện nay vị trí này đang bị tranh chấp bởi tụ cầu khuẩn. Hai tác giả Moreillon và Que tổng kết số liệu của 26 nghiên cứu được công bố từ 1993 đến 2003 mô tả 3784 đợt VNTMNT 2. Tổng kết này cho thấy tụ cầu khuẩn, đặc biệt là tụ cầu khuẩn vàng, đứng đầu trong số các tác nhân gây VNTMNT, kế đến là liên cầu khuẩn và đứng ở vị trí thứ 3 là tràng cầu khuẩn (enterococcus) (hình 1). Tỉ lệ VNTMNT do tụ cầu khuẩn vàng tương quan thuận chiều với tỉ lệ người tiêm chích tĩnh mạch 2.

Nhiều nhà nghiên cứu ở châu Á cũng ghi nhận có một sự gia tăng tỉ lệ tụ cầu khuẩn trong số các tác nhân gây VNTMNT. Một nghiên cứu trên 315 ca VNTMNT tại Đài Loan cho thấy trong số các tác nhân gây bệnh, tụ cầu khuẩn chiếm tỉ lệ 32% và liên cầu khuẩn chiếm tỉ lệ 24% 4. Còn theo báo cáo kết quả theo dõi 198 ca VNTMNT của một nhóm tác giả Ấn Độ, tụ cầu khuẩn chiếm tỉ lệ 20% và liên cầu khuẩn chiếm tỉ lệ 23% trong số các tác nhân gây bệnh 5.

Sự thay đổi về diện mạo vi sinh học cũng đã được ghi nhận riêng trong VNTMNT trên van nhân tạo. Theo các báo cáo trước đây, tụ cầu khuẩn coagulase âm đứng hàng đầu trong số các tác nhân gây VNTMNT trên van nhân tạo, kế đến mới là tụ cầu khuẩn vàng 6. Kể từ tháng 6/2000 một nhóm nhà nghiên cứu từ 28 quốc gia (Hoa Kỳ, Nam Mỹ, Bắc Âu, Trung Âu và Nam Âu, Trung Đông, Nam Phi, Úc và New Zealand) đã phối hợp tiến hành một nghiên cứu đoàn hệ tiền cứu về VNTMNT mang tên ICE-PCS (International Collaboration on Endocarditis-Prospective Cohort Study) 7. Trong năm 2007 nhóm nghiên cứu này báo cáo kết quả theo dõi 556 ca VNTMNT trên van nhân tạo. Theo báo cáo này, tụ cầu khuẩn vàng là tác nhân gây bệnh thường gặp nhất (tỉ lệ 23%), kế đến là tụ cầu khuẩn coagulase âm (tỉ lệ 16,9%) 3.

Có một hiện tượng rất đáng ngại đang diễn ra là sự gia tăng tỉ lệ các vi khuẩn kháng thuốc trong số các tác nhân gây VNTMNT. VNTMNT do cầu khuẩn Gram dương kháng thuốc có khả năng sẽ trở thành một thách thức lớn đối với y giới trong thế kỷ 21 8.
Gram1
Hình 1 : Tỉ lệ VNTMNT do các tác nhân gây bệnh khác nhau (số liệu từ 3784 đợt VNTMNT) 2.

Cầu khuẩn gram dương gây viêm nội tâm mạc nhiễm trùng

1) Tụ cầu khuẩn : Dựa vào khả năng tiết enzym coagulase (enzym làm đông huyết tương), tụ cầu khuẩn được chia thành tụ cầu khuẩn coagulase dương (tức là tụ cầu khuẩn vàng – Staphylococcus aureus) và tụ cầu khuẩn coagulase âm (gồm nhiều loài, trong đó Staphylococcus epidermidis là tác nhân gây bệnh thường gặp nhất) 9. Dựa theo tính nhạy với kháng sinh, tụ cầu khuẩn được chia thành tụ cầu khuẩn nhạy meticillin và tụ cầu khuẩn kháng meticillin. Kháng sinh nhóm penicillin nói riêng và họ -lactam nói chung tác động trên vi khuẩn bằng cách bám vào và ức chế các protein gắn penicillin (penicillin-binding protein – PBP) dẫn đến ức chế quá trình tổng hợp peptidoglycan của thành vi khuẩn. Các chủng tụ cầu khuẩn nhạy meticillin có 4 PBP đều bị ức chế bởi meticillin và các penicillin cùng phân nhóm bền vững với -lactamase (oxacillin, dicloxacillin, nafcillin), các cephalosporin và các carbapenem (imipenem, meropenem). Trong khi đó chủng tụ cầu khuẩn kháng meticillin có một PBP biến thể được gọi là PBP 2 hay PBP 2a. PBP 2 không có ái lực với kháng sinh họ -lactam, do đó chủng tụ cầu khuẩn kháng meticillin cũng đề kháng một cách tự nhiên với tất cả kháng sinh họ -lactam (bao gồm nhóm penicillin, nhóm cephalosporin và nhóm carbapenem). Trước đây tụ cầu khuẩn kháng meticillin chỉ gặp ở những bệnh nhân VNTMNT trên van nhân tạo mắc phải trong bệnh viện. Tuy nhiên hiện nay có một số nghiên cứu ở châu Á cho thấy tụ cầu khuẩn kháng meticillin chiếm tỉ lệ 7,5-11% trong số các tác nhân gây VNTMNT trên van nguyên gốc mắc phải trong cộng đồng 4,10.

Tụ cầu khuẩn kháng meticillin thường cũng đề kháng các kháng sinh nhóm aminoglycoside và fluoroquinolone.
Đa số tụ cầu khuẩn (kể cả các chủng kháng meticillin) vẫn còn nhạy với kháng sinh nhóm glycopeptide (vancomycin, teicoplanin). Tuy nhiên gần đây đã xuất hiện nhiều chủng Staphylococcus aureus có giảm độ nhạy với vancomycin (nồng độ ức chế tối thiểu – NĐƯCTT trong khoảng 8-16 mg/l). Một số nghiên cứu cho thấy nhiễm trùng do các chủng S. aureus “có độ nhạy trung gian với vancomycin” này đáp ứng kém với điều trị bằng vancomycin 11,12. Trong năm 2002 các nhà nghiên cứu ở Hoa Kỳ đã phân lập được 2 chủng S. aureus đề kháng hoàn toàn với vancomycin (một chủng có NĐƯCTT 32-64 mg/l và một chủng có NĐƯCTT > 1000 mg/l) 13,14. May mắn là cho đến nay chưa thấy xuất hiện thêm những chủng tụ cầu khuẩn tương tự.

2) Liên cầu khuẩn : Các chuyên gia vi sinh lâm sàng phân loại liên cầu khuẩn dựa vào tính chất gây tán huyết, nhóm Lancefield, tên loài và tên thường dùng. Về tính chất gây tán huyết khi được nuôi cấy trên môi trường thạch, có một số liên cầu khuẩn tạo ra vùng tán huyết hoàn toàn quanh khúm vi khuẩn (gọi là tán huyết ), một số liên cầu khuẩn tạo ra vùng tán huyết không hoàn toàn có sắc xanh lá cây quanh khúm vi khuẩn (gọi là tán huyết , hay còn gọi Streptococcus viridans, từ viridans có nghĩa là xanh lá cây) và một số khác không gây tán huyết. Các liên cầu khuẩn tán huyết còn có thể phân thành nhiều nhóm khác nhau theo Lancefield (nhóm A, B, C …) dựa vào phản ứng của các kháng huyết thanh đặc hiệu với các kháng thể carbohydrate trên thành tế bào vi khuẩn. Trên bảng 1 là phân loại liên cầu khuẩn và khả năng gây VNTMNT của từng nhóm liên cầu khuẩn 15.
Đa số liên cầu khuẩn nhạy với penicillin, tuy nhiên có một số chủng đã trở nên ngày càng kháng penicillin và các kháng sinh khác họ -lactam. Cơ chế của sự đề kháng penicillin là hiện tượng giảm ái lực của kháng sinh với các protein gắn penicillin trên màng tế bào vi khuẩn 2. Liên cầu khuẩn được gọi là kháng penicillin ở mức trung gian (hoặc có giảm độ nhạy với penicillin) nếu NĐƯCTT trong khoảng 0,1-0,5 mg/l và kháng penicillin ở mức cao nếu NĐƯCTT > 0,5 mg/l. Đa số liên cầu khuẩn kháng penicillin ở mức cao vẫn còn đáp ứng tốt với vancomycin 2.

Bảng 1 : Phân loại liên cầu khuẩn 15.
Gram2
3) Tràng cầu khuẩn : Trước đây tràng cầu khuẩn được xếp loại chung với liên cầu khuẩn nhóm D. Nhờ những nghiên cứu ở mức DNA, ngày nay người ta tách tràng cầu khuẩn thành một họ vi khuẩn riêng. Tràng cầu khuẩn chiếm tỉ lệ 5-18% trong số các tác nhân gây VNTMNT 16. Vi khuẩn này thường xâm nhập vào máu qua các thủ thuật đại tràng, niệu đạo và bàng quang. Trong số các trường hợp VNTMNT do tràng cầu khuẩn, khoảng 80% là do Enterococcus faecalis và 10% là do Enterococcus faecium 16.
Tràng cầu khuẩn có đặc điểm là đề kháng kháng sinh rất mạnh. Vi khuẩn này không bị tiêu diệt bởi penicillin G và ampicillin ở liều thông thường và đề kháng một cách tự nhiên với tất cả cephalosporin. Enterococcus faecium đề kháng nhóm penicillin mạnh hơn Enterococcus faecalis (NĐƯCTT của penicillin và ampicillin đối với E. faecium cao hơn gấp 8 lần NĐƯCTT của 2 kháng sinh này đối với E. faecalis). Tràng cầu khuẩn đề kháng penicillin qua 2 cơ chế tách biệt 15. Cơ chế thứ nhất là sản sinh -lactamase gặp ở một số chủng E. faecalis. Sự đề kháng penicillin qua cơ chế này có thể được khắc phục bằng cách phối hợp thêm một chất ức chế -lactamase, ví dụ dùng phối hợp ampicillin/sulbactam hoặc amoxicillin/clavulanate. Cơ chế thứ hai là sự đề kháng nội sinh do thay đổi protein gắn penicillin của vi khuẩn. Đây là cơ chế đề kháng chủ yếu của E. faecium với penicillin. Nhiễm trùng do chủng tràng cầu khuẩn đề kháng vừa phải (NĐƯCTT của ampicillin từ 16 đến 64 mg/l) có thể còn đáp ứng với penicillin hoặc ampicillin liều cao phối hợp gentamicin 15,17.
Trong điều kiện in vitro tràng cầu khuẩn luôn luôn đề kháng aminoglycoside ở nồng độ thông thường (gọi là đề kháng aminoglycoside ở mức thấp – low-level resistance). Một số chủng đề kháng aminoglycoside ở mức cao (high-level resistance), biểu hiện là NĐƯCTT của gentamicin > 500 g/ml và NĐƯCTT của streptomycin > 2000 g/ml.
Từ cuối thập niên 1980 đã xuất hiện nhiều chủng tràng cầu khuẩn đề kháng các kháng sinh họ glycopeptide. Đa số các chủng này kháng cả vancomycin (NĐƯCTT > 64 mg/l) lẫn teicoplanin (NĐƯCTT > 16 mg/l). Kiểu đề kháng này (phenotype vanA) xuất hiện qua trung gian plasmide nên có thể được lan truyền giữa các chủng. Một số ít chủng kháng van comycin nhưng vẫn còn nhạy với teicoplanin (phenotype vanB và vanC) 1,15,17.

ĐIỀU TRỊ VIÊM NỘI TÂM MẠC NHIỄM TRÙNG DO CẦU KHUẨN GRAM DƯƠNG KHÁNG THUỐC

1) Tụ cầu khuẩn kháng meticillin : Vancomycin là kháng sinh chủ lực điều trị VNTMNT do tụ cầu khuẩn kháng meticillin. Việc phối hợp thêm gentamicin làm tăng vận tốc sát khuẩn. Trong VNTMNT trên van nhân tạo, việc phối hợp thêm rifampicin (nếu chủng tụ cầu khuẩn gây bệnh nhạy rifampicin) rất hữu ích 1,2. Trên bảng 2 là phác đồ kháng sinh trị liệu VNTMNT do tụ cầu khuẩn kháng meticillin.

Bảng 2 : Kháng sinh trị liệu VNTMNT do tụ cầu khuẩn kháng meticillin 1,2.
Gram3
Một vấn đề đang được một số nhà nghiên cứu quan tâm là sự đáp ứng lâm sàng kém với liệu pháp vancomycin trong trường hợp NĐƯCTT của vancomycin đối với chủng tụ cầu khuẩn ở mức tương đối cao. Hidayat và cộng sự theo dõi 95 bệnh nhân nhiễm trùng bệnh viện (viêm phổi và/hoặc nhiễm trùng máu) do S. aureus kháng meticillin và so sánh tỉ lệ đáp ứng lâm sàng trong trường hợp NĐƯCTT của vancomycin ≤ 1 mg/l và ≥ 2 mg/l 18. Kết quả cho thấy những trường hợp NĐƯCTT ≤ 1 mg/l có tỉ lệ đáp ứng lâm sàng cao hơn có ý nghĩa so với những trường hợp NĐƯCTT ≥ 2 mg/l (85% so với 62%, p = 0,02) (hình 2). Tử vong trong những trường hợp đầu cũng thấp hơn so với những trường hợp sau (10% so với 24%). Từ kết quả này, các tác giả nghiên cứu đã cảnh báo về khả năng thất bại của liệu pháp vancomycin ngay cả trong những trường hợp mà NĐƯCTT của vancomycin đối với chủng tụ cầu khuẩn vẫn còn nằm trong khoảng được cho là nhạy.

Một vấn đề đang được một số nhà nghiên cứu quan tâm là sự đáp ứng lâm sàng kém với liệu pháp vancomycin trong trường hợp NĐƯCTT của vancomycin đối với chủng tụ cầu khuẩn ở mức tương đối cao. Hidayat và cộng sự theo dõi 95 bệnh nhân nhiễm trùng bệnh viện (viêm phổi và/hoặc nhiễm trùng máu) do S. aureus kháng meticillin và so sánh tỉ lệ đáp ứng lâm sàng trong trường hợp NĐƯCTT của vancomycin ≤ 1 mg/l và ≥ 2 mg/l 18. Kết quả cho thấy những trường hợp NĐƯCTT ≤ 1 mg/l có tỉ lệ đáp ứng lâm sàng cao hơn có ý nghĩa so với những trường hợp NĐƯCTT ≥ 2 mg/l (85% so với 62%, p = 0,02) (hình 2). Tử vong trong những trường hợp đầu cũng thấp hơn so với những trường hợp sau (10% so với 24%). Từ kết quả này, các tác giả nghiên cứu đã cảnh báo về khả năng thất bại của liệu pháp vancomycin ngay cả trong những trường hợp mà NĐƯCTT của vancomycin đối với chủng tụ cầu khuẩn vẫn còn nằm trong khoảng được cho là nhạy.

Gram4

Hình 2 : Tỉ lệ đáp ứng lâm sàng trong trường hợp NĐƯCTT của vancomycin ≤ 1 mg/l và ≥ 2 mg/l (Cột màu đen biểu thị tỉ lệ đáp ứng lâm sàng. Cột màu xám biểu thị tỉ lệ nồng độ đáy vancomycin trong máu chưa đạt mức gấp 4 lần NĐƯCTT).

Để đối phó với nhiễm trùng do tụ cầu khuẩn kháng hoặc có độ nhạy trung gian với vancomycin, trong thời gian gần đây ngành công nghiệp dược đã cho ra đời một số kháng sinh mới có hoạt tính mạnh chống tụ cầu khuẩn (và cả tràng cầu khuẩn). Các thuốc này gồm : quinupristin-dalfopristin (là phối hợp một streptogramin A với một streptogramin B), linezolid (là đại diện đầu tiên của nhóm oxazolidinone được dùng trong lâmsàng), daptomycin (là một kháng sinh nhóm lipopeptide), tigecycline (đại diện đầu tiên của nhóm glycylcycline được dùng trong lâm sàng), oritavancin và dalbavancin (2 kháng sinh này là những glycopeptide bán tổng hợp). Trong số các kháng sinh này chỉ có daptomycin đã được nghiên cứu ở bệnh nhân VNTMNT do S. aureus (Kết quả cho thấy daptomycin có hiệu quả tương đương phối hợp vancomycin – gentamicin 19).

2) Liên cầu khuẩn : Trong VNTMNT do liên cầu khuẩn, việc xác định NĐƯCTT của penicillin đối với chủng vi khuẩn rất quan trọng nhưng lại thường bị các thầy thuốc lâm sàng bỏ sót. Nếu NĐƯCTT của penicillin trong khoảng 0,1-0,5 mg/l, liều penicillin G dùng phải cao hơn là khi NĐƯCTT của penicillin <> 0,5 mg/l thì phải dùng phác đồ kháng sinh dành cho tràng cầu khuẩn 1,2.

3) Tràng cầu khuẩn : Một khi đã chẩn đoán VNTMNT do tràng cầu khuẩn, nên yêu cầu phòng xét nghiệm vi sinh xác định NĐƯCTT của ampicillin (hoặc penicillin) và vancomycin đối với chủng vi khuẩn và xác định chủng vi khuẩn có đề kháng gentamicin và streptomycin ở mức cao hay không 20.


Bản thân chủng tràng cầu khuẩn nguyên thủy đã tương đối đề kháng penicillin, do đó liều penicillin G dùng điều trị VNTMNT do tràng cầu khuẩn rất cao (18-30 triệu đơn vị/ngày, tương đương khoảng 400.000 đơn vị/kg/ngày). Việc phối hợp thêm gentamicin cũng là bắt buộc nếu chủng tràng cầu khuẩn không đề kháng gentamicin ở mức cao. Nếu chủng tràng cầu khuẩn kháng gentamicin ở mức cao nhưng không kháng streptomycin ở mức cao thì phối hợp penicillin (ampicillin) với streptomycin 1,2,17. Trong trường hợp chủng tràng cầu khuẩn đề kháng tất cả aminoglycoside ở mức cao, dùng penicillin G hoặc ampicillin đơn trị kéo dài (8-12 tuần) 1,16. Gần đây một nhóm tác giả Tây Ban Nha đã báo cáo việc điều trị thành công cho bệnh nhân VNTMNT do Enterococcus faecalis kháng aminoglycoside ở mức cao bằng phối hợp ampicillin – ceftriaxone liều cao (ampicillin tiêm tĩnh mạch 2 g mỗi 4 giờ, ceftriaxone tiêm tĩnh mạch 2 g mỗi 12 giờ, thời gian dùng 6 tuần) 21.


Nếu chủng tràng cầu khuẩn kháng nhóm penicillin (NĐƯCTT của ampicillin > 16 mg/l) thì có 2 lựa chọn : hoặc dùng ampicillin phối hợp sulbactam (VNTMNT do E. faecalis tiết -lactamase), hoặc dùng vancomycin thay cho kháng sinh nhóm penicillin 1,17,22.
Đa số chủng E. faecalis kháng vancomycin và một số ít chủng E. faecium kháng vancomycin còn nhạy với -lactam liều cao 17. Một số nghiên cứu cho thấy có thể dùng ampicilline liều cao phối hợp imipenem hoặc ceftriaxone để điều trị VNTMNT do các chủng vi khuẩn này 1,17,20.
Trong trường hợp chủng tràng cầu khuẩn kháng cả penicillin lẫn vancomycin và aminoglycoside ở mức cao (có thể gặp với E. faecium), chưa có một phác đồ kháng sinh nào được chứng minh là có hiệu quả. Kháng sinh được đề nghị trong trường hợp này là linezolid, quinupristin-dalfopristin hoặc daptomycin 1,15,17.
Trên bảng 3 tóm tắt các phác đồ kháng sinh trị liệu VNTMNT do tràng cầu khuẩn,
Trong VNTMNT do tràng cầu khuẩn thời gian dùng aminoglycoside là 4-6 tuần (so với chỉ 1-2 tuần trong VNTMNT do tụ cầu khuẩn hoặc liên cầu khuẩn). Vì thời gian dùng aminoglycoside kéo dài, bệnh nhân cần được theo dõi định kỳ chức năng thận. Ở người có chức năng thận bình thường, liều gentamicin khởi đầu là 3 mg/kg/ngày chia 3 lần và liều streptomycin là 15 mg/kg/ngày chia 2 lần 20. Nếu có điều kiện nên theo dõi nồng độ aminoglycoside trong máu. Liều gentamicin cần được điều chỉnh để đạt nồng độ đỉnh 3-4 µg/ml và nồng độ đáy <>20.

Bảng 3 : Kháng sinh trị liệu VNTMNT do tràng cầu khuẩn 1,20.

Gram5

Ghi chú : Ở trẻ em liều ampicillin tính theo cân nặng là 300 mg/kg/ngày, liều vancomycin là 40 mg/kg/ngày, liều imipenem là 60-100 mg/kg/ngày, liều linezolid là 30 mg/kg/ngày.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1) Hoen B. Epidemiology and antibiotic treatment of infective endocarditis: an update. Heart 2006; 92: 1694-1700.
2) Moreillon P, Que YA. Infective endocarditis. Lancet 2004; 363: 139-149.
3) Wang A, Athan E, Pappas PA, et al, for the International Collaboration on Endocarditis-Prospective Cohort Study Investigators. Contemporary clinical profile and outcome of prosthetic valve endocarditis. JAMA 2007; 297: 1354-1361.
4) Hsu CN, Wang JY, Tseng CD, et al. Clinical features and predictors for mortality in patients with infective endocarditis at a university hospital in Taiwan from 1995 to 2003. Epidemiol Infect 2006; 134: 589-597.
5) Garg N, Kandpal B, Garg N, et al. Characteristics of infective endocarditis in a developing country-clinical profile and outcome in 192 Indian patients, 1992-2001. Int J Cardiol 2005; 98: 253-260.
6) Mylonakis E, Calderwood SB. Infective endocarditis in adults. N Engl J Med 2001; 345: 1318-1330.
7) Cabell CH, Abrutyn E. Progress toward a global understanding of infective endocarditis: early lessons from the International Collaboration on Endocarditis Investigation. Infect Dis Clin North Am 2002; 16: 255-272.
8) Prendergast BD. The changing face of infective endocarditis. Heart 2006; 92: 879-885.
9) Lowy F. Staphylococcal infections. In: Harrisons principles of internal medicine, 17th edition. McGrawHill 2008: 872-881.
10) Niwa K, Nakazawa M, Tateno S, et al. Infective endocarditis in congenital heart disease: Japanese national collaboration study. Heart 2005; 91: 795-800.
11) Andrade-Baiocchi S, Tognim MCB, Baiocchi OCG, et al. Endocarditis due to glycopeptide-intermediate Staphylococcus aureus: case report and strain characterization. Diagn Microbiol Infect Dis 2003; 45: 149-152.
12) Fridkin SK, Hageman J, McDougal LK, et al. Epidemiological and microbiological characterization of infections caused by Staphylococcus aureus with reduced susceptibility to vancomycin, United States, 1997-2001. Clin Infect Dis 2003; 36: 429-439.
13) CDC. Staphyloccus aureus resistant to vancomycin – United States, 2002. Morb Mortal Wkly Rep CDC Surveill Summ 2002; 51: 565-567.
14) CDC. Vancomycin-resistant Staphylococcus aureus – Pennsylvania, 2002. Morb Mortal Wkly Rep 2002; 51: 902.
15) Wessels MR. Streptococcal and enterococcal infections. In: Harrisons principles of internal medicine, 17th edition. McGrawHill 2008: 881-890.
16) Haldar SM, OGara PT. Infective endocarditis. In: Hursts the heart, 12th edition. McGrawHill 2008: 1975-2004.
17) Murray BE. Vancomycin-resistant enterococcal infections. N Engl J Med 2000; 342: 710-721.
18) Hidayat LK, Hsu DI, Quist R, et al. High-dose vancomycin therapy for methicillin-resistant Staphylococcus aureus infections: Efficacy and toxicity. Arch Intern Med 2006; 166: 2138-2144.
19) Fowler VG, Boucher HW, Corey GR, et al, for the S. aureus Endocarditis and Bacteremia Study Group. Daptomycin versus standard therapy for bacteremia and endocarditis caused by Staphylococcus aureus. N Engl J Med 2006; 355: 653-665.
20) Baddour LM, Wilson WR, Bayer AS, et al. Infective endocarditis: Diagnosis, antimicrobial therapy, and management of complications. A statement for healthcare professionals from the Committee on Rheumatic Fever, Endocarditis, and Kawasaki Didease, Council on Cardiovascular Disease in the Young, and the Councils on Clinical Cardiology, Stroke, and Cardiovascular Surgery and Anesthesia, American Heart Association. Circulation 2005; 111: e394-e433.
21) Gavalda J, Len O, Miro JM, et al. Brief communication: Treatment of Enterococcus faecalis endocarditis with ampicillin plus ceftriaxone. Ann Intern Med 2007; 146: 574-579.
22) Karchmer AW. Infective endocarditis. In: Braunwalds heart disease, 8th edition. Saunders Elsevier 2008: 1713-1737.

ThS. Hồ Huỳnh Quang Trí – Viện Tim TP. Hồ Chí Minh


theo timmachhoc.vn

-----------------------------------

Giảng Đường Y Khoa

http://giangduongykhoa.blogspot.com

http://giangduongykhoa.net

-----------------------------------

0 nhận xét:

Đăng nhận xét

Cám ơn bạn đã đọc bài viết. Bạn có ý kiến, tư liệu hoặc thông tin hay hơn hãy để lại vài lời để cùng chia sẻ với mọi người.

Xin lưu ý bạn, các nhận xét không có tinh thần góp ý xây dựng hay giúp đỡ nhau cùng tiến bộ sẽ bị xóa mà không cần báo trước.

Thêm vào đó, bạn không nhất thiết phải là thành viên của Google Blogger hay các mạng được liệt kê phía dưới mới được nhận xét, hãy sử dụng anonymous (Ẩn danh) nếu bạn không muốn để lại thông tin cá nhân của mình.

Nội dung gõ bằng tiếng Việt có dấu rõ ràng sẽ dễ chiếm thiện cảm hơn cả.
giangduongykhoa.net

MedicineNet Daily News

Medscape Medical News Headlines

WebMD Health

National Institutes of Health (NIH) News Releases