<?xml version='1.0' encoding='UTF-8'?><?xml-stylesheet href="http://www.blogger.com/styles/atom.css" type="text/css"?><feed xmlns='http://www.w3.org/2005/Atom' xmlns:openSearch='http://a9.com/-/spec/opensearchrss/1.0/' xmlns:georss='http://www.georss.org/georss' xmlns:gd='http://schemas.google.com/g/2005' xmlns:thr='http://purl.org/syndication/thread/1.0'><id>tag:blogger.com,1999:blog-8347068896071358659</id><updated>2012-02-06T01:06:34.675-08:00</updated><category term='Điều dưỡng nâng cao'/><category term='Tật Nói Lắp'/><category term='Nhãn Khoa'/><category term='Điều dưỡng cơ bản'/><category term='Nội Khoa - nội tiết'/><category term='Ngoại khoa - mạch máu'/><category term='Nhãn Khoa - Bài Giảng'/><category term='Tai Mũi Họng - mũi xoang'/><category term='Dược Lý Học'/><category term='Y Học Cổ Truyền'/><category term='Nhi Khoa'/><category term='Nhãn Khoa - Phim Phẫu Thuật'/><category term='Chẩn Đoán Hình Ảnh'/><category term='Dinh dưỡng'/><category term='Tai Mũi Họng - tai'/><category term='Lao Phổi'/><category term='Nội Khoa - Huyết học'/><category term='Ung Thư'/><category term='Nội Khoa - hô hấp'/><category term='Nội Khoa - cơ xương khớp'/><category term='Ngoại Khoa - chấn thương chỉnh hình'/><category term='Răng Hàm Mặt'/><category term='Nội Khoa - tim mạch'/><category term='Nội Khoa - tiết niệu'/><category term='Chống nhiễm khuẩn'/><category term='Truyền Nhiễm'/><category term='Nội Khoa - thần kinh'/><category term='Tai Mũi Họng - họng miệng'/><category term='Cấp Cứu'/><category term='Y Học Phổ Thông'/><category term='Ngoại Khoa - niệu'/><category term='Ngoại Khoa - thần kinh'/><category term='Nội Khoa - tiêu hóa'/><category term='Thông Tin Y Học'/><category term='Sản Phụ Khoa'/><category term='Tai Mũi Họng - bài giảng'/><category term='Ngoại Khoa - tiêu hóa'/><category term='Nội Khoa - điều trị'/><category term='Ngoại Khoa - Bỏng'/><category term='Da Liễu'/><category term='Gây mê hồi sức'/><category term='Y học cơ sở'/><category term='Ngoại Khoa - lồng ngực'/><category term='Ngoại Khoa - nội soi'/><category term='E-book'/><category term='Phần Mềm Y Khoa'/><title type='text'>Giảng Đường Y Khoa</title><subtitle type='html'></subtitle><link rel='http://schemas.google.com/g/2005#feed' type='application/atom+xml' href='http://giangduongykhoa.blogspot.com/feeds/posts/default'/><link rel='self' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/8347068896071358659/posts/default?max-results=100'/><link rel='alternate' type='text/html' href='http://giangduongykhoa.blogspot.com/'/><link rel='hub' href='http://pubsubhubbub.appspot.com/'/><link rel='next' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/8347068896071358659/posts/default?start-index=101&amp;max-results=100'/><author><name>Giảng Đường Y Khoa</name><uri>http://www.blogger.com/profile/01045762399869292181</uri><email>noreply@blogger.com</email><gd:image rel='http://schemas.google.com/g/2005#thumbnail' width='32' height='32' src='http://1.bp.blogspot.com/_iO0u_-8tJ8E/S95LXKfU_tI/AAAAAAAAAcY/p80KgeQ8pf0/S220/logo-1.png'/></author><generator version='7.00' uri='http://www.blogger.com'>Blogger</generator><openSearch:totalResults>1881</openSearch:totalResults><openSearch:startIndex>1</openSearch:startIndex><openSearch:itemsPerPage>100</openSearch:itemsPerPage><entry><id>tag:blogger.com,1999:blog-8347068896071358659.post-2657488540196013200</id><published>2011-01-21T08:59:00.001-08:00</published><updated>2011-01-21T08:59:50.231-08:00</updated><category scheme='http://www.blogger.com/atom/ns#' term='Y Học Phổ Thông'/><title type='text'>Quả dứa có tác dụng chữa cao huyết áp</title><content type='html'>&lt;p&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Phù thũng do viêm thận, viêm khí quản, cao huyết áp…, những bệnh này đều có thể được cải thiện nhờ quả dứa.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Chữa cao huyết áp, phù thũng: Dứa gọt vỏ vắt lấy nước, mỗi lần uống 30 ml với nước sôi để nguội, ngày 2 – 3 lần.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Chú ý: Dứa dễ gây phản ứng cho một số người quá mẫn cảm. Để tránh xảy ra ngộ độc dứa, trước khi ăn cần gọt sạch, cắt miếng, ngâm vào nước muối nồng độ 1%, sau 20 phút mới ăn, tuyệt đối không ăn quá nhiều dứa khi đói.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Những người viêm loét đường tiêu hoá, người mắc bệnh gan hoặc thận nặng, chức năng đông máu kém không nên ăn dứa&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Theo caohuyetap.com&lt;br /&gt;-----------------------------------&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Giảng Đường Y Khoa&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;a href="http://giangduongykhoa.blogspot.com/"&gt;http://giangduongykhoa.blogspot.com&lt;/a&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;a href="http://giangduongykhoa.net/"&gt;http://giangduongykhoa.net&lt;/a&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;-----------------------------------&lt;/p&gt;&lt;div class="blogger-post-footer"&gt;Giảng Đường Y Khoa - Nơi Hội Tụ Kiến Thức Y Khoa&lt;img width='1' height='1' src='https://blogger.googleusercontent.com/tracker/8347068896071358659-2657488540196013200?l=giangduongykhoa.blogspot.com' alt='' /&gt;&lt;/div&gt;</content><link rel='replies' type='application/atom+xml' href='http://giangduongykhoa.blogspot.com/feeds/2657488540196013200/comments/default' title='Đăng Nhận xét'/><link rel='replies' type='text/html' href='http://giangduongykhoa.blogspot.com/2011/01/qua-dua-co-tac-dung-chua-cao-huyet-ap.html#comment-form' title='0 Nhận xét'/><link rel='edit' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/8347068896071358659/posts/default/2657488540196013200'/><link rel='self' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/8347068896071358659/posts/default/2657488540196013200'/><link rel='alternate' type='text/html' href='http://giangduongykhoa.blogspot.com/2011/01/qua-dua-co-tac-dung-chua-cao-huyet-ap.html' title='Quả dứa có tác dụng chữa cao huyết áp'/><author><name>Giảng Đường Y Khoa</name><uri>http://www.blogger.com/profile/01045762399869292181</uri><email>noreply@blogger.com</email><gd:image rel='http://schemas.google.com/g/2005#thumbnail' width='32' height='32' src='http://1.bp.blogspot.com/_iO0u_-8tJ8E/S95LXKfU_tI/AAAAAAAAAcY/p80KgeQ8pf0/S220/logo-1.png'/></author><thr:total>0</thr:total></entry><entry><id>tag:blogger.com,1999:blog-8347068896071358659.post-532014485400768246</id><published>2011-01-21T08:58:00.000-08:00</published><updated>2011-01-21T08:59:11.659-08:00</updated><category scheme='http://www.blogger.com/atom/ns#' term='Y Học Phổ Thông'/><title type='text'>6 mẹo hay trị bệnh huyết áp cao</title><content type='html'>&lt;p&gt;1.&lt;strong&gt; Ăn sôcôla mỗi ngày&lt;/strong&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Các hạt cacao có chứa chất chống ôxy hóa flavanol làm tăng nitric oxide trong máu và kích thích tuần hoàn mạch máu. Những người ăn 1/3 thanh sôcôla mỗi ngày có thể giảm áp huyết và giảm nguy cơ tử vong tới 50% so với những người không ăn. Đây là thông tin mới mẻ cho những người nghiền kẹo sôcôla.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Họ cũng nhận thấy rằng, những người ăn nhiều sản phẩm làm từ cacao không hề to béo hơn những người ít ăn.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Còn phụ nữ thì sao? “Hiệu quả đối với nam giới và nữ giới là như nhau, kể cả người già hay còn trẻ”, ông Brian Buijsse, chuyên gia dinh dưỡng của trường đại học Wageningen của Hà Lan, người cùng tham gia nghiên cứu khẳng định.&lt;br /&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;2.&lt;strong&gt; Lạc quan h&lt;/strong&gt;&lt;strong&gt;ay cười&lt;/strong&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Kết quả điều tra trên 25.000 người có độ tuổi từ 65 trở lên cho thấy, những người càng lạc quan thì nguy cơ mắc bệnh huyết áp ở họ càng giảm đi bởi tâm trạng lạc quan có thể tạo sự cân bằng giữa phản ứng của hệ thần kinh cũng như phản ứng hóa học, đồng thời giúp bạn giảm căng thẳng.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Để có thể chứng minh được tâm trạng vui vẻ có liên quan tới huyết áp, các nhà nghiên cứu đã tiến hành điều tra trên 2.654 người Mỹ gốc Mehicô, độ tuổi trung bình là 72,5. Các nhà nghiên cứu phát hiện ra rằng những người càng lạc quan thì nguy cơ mắc bệnh huyết ở họ càng giảm đi, đặc biệt là đối với những người không sử dụng thuốc hạ huyết áp. Tuy nhiên, tâm trạng lạc quan vẫn phát huy tác dụng đối với những người đang dùng dược phẩm chống tăng huyết áp.&lt;br /&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;3.&lt;strong&gt; Thường xuyên ăn khoai tây&lt;/strong&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Kết quả cuộc nghiên cứu mới đây do các nhà khoa học thuộc Viện Nghiên cứu thực phẩm (Anh) thực hiện cho thấy ăn khoai tây rất có lợi cho những người có huyết áp quá cao.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Theo các nhà khoa học, chất kukoamine có trong khoai tây có thể cải thiện sức khỏe, giúp ngủ ngon hơn và giúp hạ huyết áp. Cũng theo kết quả nghiên cứu, khoai tây luộc tốt cho sức khỏe hơn so với khoai tây chiên.&lt;br /&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;4.&lt;strong&gt; Ngủ đủ&lt;/strong&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Những người ở độ tuổi trung niên chỉ ngủ 5 tiếng/ngày dễ có nguy cơ bị chứng huyết áp cao. Các nhà khoa học thuộc Đại học Columbia (Mỹ) đã khẳng định điều này sau khi nghiên cứu trên 4.810 người ở độ tuổi 32-86. Theo các chuyên gia, giấc ngủ giúp tim đập chậm lại và huyết áp giảm xuống.&lt;br /&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;5.&lt;strong&gt; Uống sữa ít béo&lt;/strong&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Nghiên cứu của TS Luc Djousse, Bệnh viện Brigham (Boston, Mỹ), với 4.797 người tham gia đã cho thấy mối liên quan giữa việc ăn các sản phẩm từ sữa (phô mai, sữa chua và sữa) với huyết áp. Đó là chỉ số áp suất máu tâm thu trung bình của nhóm người dùng nhiều sữa nhất là 2,6 mmHg, thấp hơn so với nhóm người dùng lượng sữa ít nhất.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Nghiên cứu cũng phát hiện những người tiêu thụ nhiều sữa ít chất béo nhất ít có nguy cơ bị cao huyết áp (đến 54%) so với nhóm còn lại.&lt;br /&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;strong&gt;6. Các sản phẩm từ đậu nành&lt;/strong&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Dùng protein phụ chất đậu nành có thể giúp giảm huyết áp cao, đó là kết quả nghiên cứu của các nhà khoa học thuộc Trường Đại học Tulane ở New Orleans (Mỹ).&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Sau khi chọn 302 người lớn tuổi bị cao huyết áp và cho họ dùng phụ chất đậu nành hoặc carbon hydrat khử hoạt tính trong vòng 12 tuần, các nhà khoa học nhận thấy huyết áp giảm ở những ai dùng đậu nành và sự thay đổi rõ nhất là ở những người có huyết áp ít nhất là 140/90.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Theo Dân trí&lt;br /&gt;-----------------------------------&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Giảng Đường Y Khoa&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;a href="http://giangduongykhoa.blogspot.com/"&gt;http://giangduongykhoa.blogspot.com&lt;/a&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;a href="http://giangduongykhoa.net/"&gt;http://giangduongykhoa.net&lt;/a&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;-----------------------------------&lt;/p&gt;&lt;div class="blogger-post-footer"&gt;Giảng Đường Y Khoa - Nơi Hội Tụ Kiến Thức Y Khoa&lt;img width='1' height='1' src='https://blogger.googleusercontent.com/tracker/8347068896071358659-532014485400768246?l=giangduongykhoa.blogspot.com' alt='' /&gt;&lt;/div&gt;</content><link rel='replies' type='application/atom+xml' href='http://giangduongykhoa.blogspot.com/feeds/532014485400768246/comments/default' title='Đăng Nhận xét'/><link rel='replies' type='text/html' href='http://giangduongykhoa.blogspot.com/2011/01/6-meo-hay-tri-benh-huyet-ap-cao.html#comment-form' title='0 Nhận xét'/><link rel='edit' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/8347068896071358659/posts/default/532014485400768246'/><link rel='self' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/8347068896071358659/posts/default/532014485400768246'/><link rel='alternate' type='text/html' href='http://giangduongykhoa.blogspot.com/2011/01/6-meo-hay-tri-benh-huyet-ap-cao.html' title='6 mẹo hay trị bệnh huyết áp cao'/><author><name>Giảng Đường Y Khoa</name><uri>http://www.blogger.com/profile/01045762399869292181</uri><email>noreply@blogger.com</email><gd:image rel='http://schemas.google.com/g/2005#thumbnail' width='32' height='32' src='http://1.bp.blogspot.com/_iO0u_-8tJ8E/S95LXKfU_tI/AAAAAAAAAcY/p80KgeQ8pf0/S220/logo-1.png'/></author><thr:total>0</thr:total></entry><entry><id>tag:blogger.com,1999:blog-8347068896071358659.post-8786993923796070555</id><published>2011-01-21T08:57:00.000-08:00</published><updated>2011-01-21T08:58:07.689-08:00</updated><category scheme='http://www.blogger.com/atom/ns#' term='Y Học Phổ Thông'/><title type='text'>Những hiểu biết sai lầm về cao huyết áp cần tránh</title><content type='html'>&lt;p&gt;&lt;strong&gt;1. Có không ít người cho rằng: Huyết áp(HA) tăng cao cùng với tuổi tác là hiện tượng bình thường?&lt;/strong&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;HA sẽ tăng tỷ lệ thuận với độ tuổi, đặc biệt là vào giai đoạn lão hóa, HA tối đa tăng rõ rệt nhất. Tuy nhiên, đây cũng không phải là một hiện tượng bình thường, mà rất có hại sức khỏe. Người có HA tối đa cao có nguy cơ gặp phải các tai biến nguy hiểm cao hơn từ 3 – 6 lần so với người có HA tối đa bình thường, cần có biện pháp điều trị để phòng ngừa các bệnh về tim và mạch máu não.&lt;br /&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;strong&gt;2. Căng thẳng cao độ sẽ dẫn đến cao HA?&lt;/strong&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Có một số người cao tuổi cho rằng, “cao HA” dùng để chỉ những người bị kích thích về tinh thần và bị căng thẳng về thần kinh. Dựa trên quan điểm sai lầm đó, một số người mắc bệnh cao HA chỉ uống thuốc khi bản thân họ cảm thấy khó chịu, căng thẳng về tinh thần, kiểu uống thuốc này chẳng khác gì uống mấy viên tetracyclin khi cảm thấy nhức đầu. Nhưng nên biết rằng, cao HA không chỉ do đơn giản là sự căng thẳng về tinh thần, có rất nhiều người sống trong điều kiện thoải mái nhẹ nhàng mà vẫn bị cao HA, “cao” ở đây có ý là quá mức, “áp” là chỉ áp lực của dòng máu lưu thông lên trên thành mạch. Đối với áp lực máu lưu thông cao như vậy, nếu không giảm bớt sẽ làm giảm tuổi thọ của con người.&lt;br /&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;3.&lt;strong&gt; Đánh giá bệnh nặng nhẹ bằng cảm giác của mình?&lt;/strong&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Triệu chứng của bệnh cao HA và tình trạng bệnh tật đôi khi không giống nhau. Triệu chứng rất rõ ràng nhưng đôi khi HA lại không cao. Ngược lại, có những người HA rất cao nhưng triệu chứng lâm sàng rất nghèo nàn. Do không nhận biết được chính xác các triệu chứng của bệnh, nên họ sẽ không uống thuốc, dẫn tới các chứng bệnh khác cùng phát sinh như: tim phì đại, nhồi máu cơ tim… Còn với người cao HA mà triệu chứng lâm sàng không có cũng cần tiến hành điều trị giảm HA một cách tích cực, điều này phụ thuộc vào tuổi tác, chỉ số HA, tình trạng tổn thương của các phủ tạng như: tim, não, thận và các nhân tố gây nguy hiểm khác.&lt;br /&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;4.&lt;strong&gt; Tự chọn lấy biện pháp điều trị giảm HA cho bản thân?&lt;/strong&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Có một số người, khi bác sĩ khuyên song song với việc uống thuốc HA hàng ngày, cần phải chú ý thay đổi chế độ ăn uống, sinh hoạt như: giảm béo, năng tập thể dục thể thao, ăn giảm muối thì lại cho rằng họ không cần uống thuốc mà chỉ cần chọn lấy một trong những cách như trên để thay thế cho phương pháp điều trị mà bác sĩ đã chỉ định. Trên thực tế, tuyệt đại đa số những phương pháp ngoài uống thuốc như vừa nêu trên chỉ là các phương pháp hỗ trợ, chứ không thể thay thế được việc điều trị bằng thuốc, cách làm như trên hoàn toàn sai lầm. Cho đến bây giờ, vẫn chưa có một nghiên cứu nào chứng minh được rằng, các phương pháp hỗ trợ dùng điều trị cao HA có tác dụng làm giảm tỷ lệ hoặc phòng tránh được các bệnh về tim mạch do cao HA gây ra.&lt;br /&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;strong&gt;5. Lạc quan thái quá về kết quả điều trị, cho là bệnh sẽ khỏi hoàn toàn, nên tự ý không uống thuốc?&lt;/strong&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Rất nhiều người bị bệnh cao HA, sau khi nhờ uống thuốc đã làm cho HA trở lại mức mà theo bác sĩ trực tiếp điều trị là bình thường, thế là họ tự cho phép mình ngừng không uống thuốc, với họ cho rằng mình đã hoàn toàn khỏe mạnh trở lại, không cần đến thuốc nữa. Trên thực tế, số lượng người mắc bệnh cao HA mà điều trị khỏi rất hiếm, cần phải cảnh giác, liên tục kiểm tra, điều chỉnh nhằm phòng chống những biến chứng do nó gây ra. Vì vậy, phần lớn những người cao HA đều phải uống thuốc HA suốt đời.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Qua một số những “hiểu biết” sai lầm về bệnh cao HA của bệnh nhân, chúng tôi muốn nhắc nhở tới tất cả mọi người, những người chưa, sẽ và đã mắc bệnh HA cao là luôn cảnh giác, thường xuyên kiểm tra sức khỏe, duy trì mức độ HA bình thường là tốt nhất, huyết áp tăng cao sẽ dễ dẫn đến nhiều bệnh khác. Tuy nhiên, không phải người HA 150mmHg thì sẽ an toàn hơn người có HA 200mmHg. Sự an toàn tính mạng chủ yếu là do ý thức bảo vệ sức khỏe. Người HA cao 200mmHg mà biết cách chú ý giữ gìn, uống thuốc theo đúng chỉ định của bác sĩ, sống điều độ tập luyện thường xuyên thì sẽ giúp HA ổn định lại. Ngược lại, người HA vốn chỉ ở mức 150mmHg mà không chịu giữ gìn, ăn uống “vô tội vạ”, không tập luyện thường xuyên thì rất dễ tiến triển thành bệnh nặng.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;BS. THU HƯƠNG&lt;br /&gt;Theo sức khỏe đời sống&lt;br /&gt;-----------------------------------&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Giảng Đường Y Khoa&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;a href="http://giangduongykhoa.blogspot.com/"&gt;http://giangduongykhoa.blogspot.com&lt;/a&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;a href="http://giangduongykhoa.net/"&gt;http://giangduongykhoa.net&lt;/a&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;-----------------------------------&lt;/p&gt;&lt;div class="blogger-post-footer"&gt;Giảng Đường Y Khoa - Nơi Hội Tụ Kiến Thức Y Khoa&lt;img width='1' height='1' src='https://blogger.googleusercontent.com/tracker/8347068896071358659-8786993923796070555?l=giangduongykhoa.blogspot.com' alt='' /&gt;&lt;/div&gt;</content><link rel='replies' type='application/atom+xml' href='http://giangduongykhoa.blogspot.com/feeds/8786993923796070555/comments/default' title='Đăng Nhận xét'/><link rel='replies' type='text/html' href='http://giangduongykhoa.blogspot.com/2011/01/nhung-hieu-biet-sai-lam-ve-cao-huyet-ap.html#comment-form' title='0 Nhận xét'/><link rel='edit' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/8347068896071358659/posts/default/8786993923796070555'/><link rel='self' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/8347068896071358659/posts/default/8786993923796070555'/><link rel='alternate' type='text/html' href='http://giangduongykhoa.blogspot.com/2011/01/nhung-hieu-biet-sai-lam-ve-cao-huyet-ap.html' title='Những hiểu biết sai lầm về cao huyết áp cần tránh'/><author><name>Giảng Đường Y Khoa</name><uri>http://www.blogger.com/profile/01045762399869292181</uri><email>noreply@blogger.com</email><gd:image rel='http://schemas.google.com/g/2005#thumbnail' width='32' height='32' src='http://1.bp.blogspot.com/_iO0u_-8tJ8E/S95LXKfU_tI/AAAAAAAAAcY/p80KgeQ8pf0/S220/logo-1.png'/></author><thr:total>0</thr:total></entry><entry><id>tag:blogger.com,1999:blog-8347068896071358659.post-1700245062520219721</id><published>2011-01-21T08:56:00.000-08:00</published><updated>2011-01-21T08:57:07.771-08:00</updated><category scheme='http://www.blogger.com/atom/ns#' term='Y Học Phổ Thông'/><title type='text'>Người cao tuổi phòng tránh đỉnh huyết áp lúc sáng sớm</title><content type='html'>&lt;p&gt;Sự tăng vọt huyết áp ở người cao tuổi sau khi thức dậy dẫn đến tình trạng “đỉnh huyết áp lúc sáng sớm”, làm tăng 70% nguy cơ bị các biến chứng trầm trọng như tai biến mạch máu não, nhồi máu cơ tim.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Người cao tuổi phòng tránh đỉnh huyết áp lúc sáng sớm&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Sự biến thiên của mức huyết áp 24 giờ&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Huyết áp là một đại lượng thay đổi và luôn luôn tuân theo quy luật đặc trưng riêng của nó: Huyết áp hạ khi ngủ và tăng nhanh vào lúc thức dậy. Ở người bình thường, đỉnh huyết áp tâm thu hoặc tâm trương thường cao hơn đỉnh khi ngủ là 20mmHg và cao hơn đỉnh buổi chiều là 10mmHg. Trên nền biến thiên hàng ngày này, huyết áp còn chịu ảnh hưởng, có khi rất mạnh của hoạt động thể chất và những xúc cảm. Hơn nữa, ngoài sự biến thiên hàng ngày, còn có sự biến thiên hàng tuần (với mức huyết áp cao vào những ngày làm việc) và biến thiên theo mùa (với mức huyết áp cao vào mùa lạnh). Những thay đổi huyết áp này càng tăng nặng ở người bị tăng huyết áp.&lt;br /&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Tăng huyết áp vào buổi sáng sớm nguy hiểm nhất&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Theo một nghiên cứu mới thực hiện vào năm 2003 trên một quần thể người châu Á, cho thấy người cao tuổi có mức huyết áp tăng khi thức giấc là những người có nguy cơ cao bị TBMMN hoặc những biến chứng tim mạch khác. Sự gia tăng huyết áp có thể suy đoán được bằng cách đo huyết áp ở nhà và khi mức huyết áp buổi sáng &gt; 140/90mmHg. Những người này nhất thiết phải được điều trị bằng loại thuốc hạ áp có tác dụng liên tục 24 giờ. Ðó là các thuốc thuộc nhóm kháng thụ thể Angiotesin II (như Micardis).&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Ðiều cốt yếu là bảo vệ tim mạch lúc sáng sớm&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Người cao tuổi bị tăng huyết áp vẫn có thể sống tốt và tích cực ở tuổi 70, 80 hay thậm chí 90. Ngoài việc khống chế huyết áp bằng loại thuốc tác dụng kéo dài, cần kiểm soát được cả thời điểm nguy cơ cao nhất vào lúc sáng sớm. Khi thức giấc, dù đêm hay ngày, người cao tuổi nên bình tĩnh nằm yên ở tư thế cũ khoảng 3-5 phút. Nếu tập thở nhịp nhàng thì càng tốt, sau đó hãy dậy. Như vậy, cơ thể sẽ thích nghi dần với nhu cầu tăng nhanh của hệ tuần hoàn; Tim, não không bị thiếu máu, thiếu oxygène, có thể tránh được biến cố cấp thời về tim mạch.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Theo kết luận gần đây của Tổ chức Y tế Thế giới: “TBMMN có khả năng dự phòng hiệu quả”. Do vậy, vấn đề dự phòng TBMMN đã trở thành mục tiêu chỉ đạo ở nhiều nước trên thế giới. Bên cạnh việc can thiệp làm giảm các yếu tố nguy cơ gây bệnh khác, việc phòng tránh “đỉnh huyết áp lúc sáng sớm” là biện pháp quan trọng trong kế hoạch dự phòng TBMMN.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;BS. Bùi Nguyên Kiểm (BV. Xanh Pôn – Hà Nội)&lt;br /&gt;Theo Báo Sức khoẻ &amp;amp; Đời sống&lt;br /&gt;-----------------------------------&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Giảng Đường Y Khoa&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;a href="http://giangduongykhoa.blogspot.com/"&gt;http://giangduongykhoa.blogspot.com&lt;/a&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;a href="http://giangduongykhoa.net/"&gt;http://giangduongykhoa.net&lt;/a&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;-----------------------------------&lt;/p&gt;&lt;div class="blogger-post-footer"&gt;Giảng Đường Y Khoa - Nơi Hội Tụ Kiến Thức Y Khoa&lt;img width='1' height='1' src='https://blogger.googleusercontent.com/tracker/8347068896071358659-1700245062520219721?l=giangduongykhoa.blogspot.com' alt='' /&gt;&lt;/div&gt;</content><link rel='replies' type='application/atom+xml' href='http://giangduongykhoa.blogspot.com/feeds/1700245062520219721/comments/default' title='Đăng Nhận xét'/><link rel='replies' type='text/html' href='http://giangduongykhoa.blogspot.com/2011/01/nguoi-cao-tuoi-phong-tranh-inh-huyet-ap.html#comment-form' title='0 Nhận xét'/><link rel='edit' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/8347068896071358659/posts/default/1700245062520219721'/><link rel='self' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/8347068896071358659/posts/default/1700245062520219721'/><link rel='alternate' type='text/html' href='http://giangduongykhoa.blogspot.com/2011/01/nguoi-cao-tuoi-phong-tranh-inh-huyet-ap.html' title='Người cao tuổi phòng tránh đỉnh huyết áp lúc sáng sớm'/><author><name>Giảng Đường Y Khoa</name><uri>http://www.blogger.com/profile/01045762399869292181</uri><email>noreply@blogger.com</email><gd:image rel='http://schemas.google.com/g/2005#thumbnail' width='32' height='32' src='http://1.bp.blogspot.com/_iO0u_-8tJ8E/S95LXKfU_tI/AAAAAAAAAcY/p80KgeQ8pf0/S220/logo-1.png'/></author><thr:total>0</thr:total></entry><entry><id>tag:blogger.com,1999:blog-8347068896071358659.post-8534271828564151183</id><published>2011-01-21T08:54:00.000-08:00</published><updated>2011-01-21T08:56:22.932-08:00</updated><category scheme='http://www.blogger.com/atom/ns#' term='Y Học Phổ Thông'/><title type='text'>Nguyên nhân và cách chữa bệnh tăng huyết áp thứ phát</title><content type='html'>&lt;p&gt;&lt;strong&gt;&lt;em&gt;1.&lt;/em&gt;&lt;/strong&gt;&lt;strong&gt; Hẹp động mạch chủ&lt;/strong&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Khi động mạch chủ bị hẹp ở một đoạn nào đó (do bẩm sinh hoặc mắc phải) sẽ khiến tim phải co bóp mạnh hơn để tống máu đi qua được chỗ hẹp. Bằng cách này, máu sẽ đi đến được các cơ quan ở phía dưới chỗ hẹp nhưng lại làm tăng HA ở phía trên chỗ hẹp, trong đó có HA ở động mạch cánh tay. Điều trị có thể là phẫu thuật sửa chữa hoặc nong rộng chỗ hẹp, nếu thành công sẽ đưa được HA về bình thường.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;strong&gt;&lt;em&gt;2&lt;/em&gt;&lt;/strong&gt;&lt;strong&gt;. Hẹp động mạch thận&lt;/strong&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Hẹp động mạch thận 1 hoặc 2 bên thường gây ra tăng HA nặng và kèm theo là tổn thương cấu trúc thận không hồi phục. Có 2 nguyên nhân chính là do mảng xơ vữa động mạch (giống như xơ vữa gây hẹp động mạch vành nuôi tim) hoặc do xơ hóa làm thành động mạch thận dày lên gây hẹp (gọi là loạn sản xơ cơ). Chẩn đoán bằng chụp động mạch thận. Nếu hẹp nhẹ, chức năng thận bình thường thì có thể điều trị tăng HA bằng chế độ ăn, tập luyện và dùng thuốc. Còn trong trường hợp hẹp nhiều thì có thể tiến hành điều trị bằng 1 trong 3 phương pháp giống như điều trị hẹp động mạch vành: Hoặc nong chỗ hẹp bằng bóng, hoặc đặt stent để giữ cho chỗ đó luôn được mở, hoặc phẫu thuật bắc cầu nối đi qua chỗ hẹp. Một khi dòng máu tới thận được đầy đủ, dễ dàng thì HA sẽ giảm về bình thường.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;strong&gt;3. Ngừng thở lúc ngủ&lt;/strong&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Đây là bệnh không hiếm gặp nhưng hay bị bỏ qua. Những người bị bệnh này sẽ có các cơn ngừng thở trong lúc ngủ gây thiếu ôxy từng đợt. Hậu quả là các tế bào ở thành mạch máu bị tổn thương làm giảm (hoặc mất) tính đàn hồi vốn có tác dụng điều hòa HA, dẫn đến HA tăng lên. Bệnh hay gặp ở những người béo, người có bệnh về mũi xoang, triệu chứng hay gặp là ngáy to. Điều trị gồm giảm cân, phẫu thuật mũi họng, sử dụng các dụng cụ trợ giúp hô hấp… để điều hòa HA và phòng ngừa bị đột tử.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;4. &lt;strong&gt;Béo phì hoặc thừa cân&lt;/strong&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Những người béo sẽ có lượng máu lưu thông trong cơ thể cao hơn, khiến áp lực tác động lên thành động mạch tăng lên. Đi kèm với béo thường là tăng nhịp tim và giảm khả năng vận chuyển máu của hệ thống mạch máu trong cơ thể… tất cả các yếu tố này đều làm tăng HA. Một nguyên nhân khác nữa là béo phì hoặc thừa cân thường phối hợp với bệnh đái tháo đường hoặc kháng insulin cũng gây tăng HA. Biện pháp điều trị đầu tiên và quan trọng nhất chính là giảm cân.&lt;br /&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;5.&lt;strong&gt; Tiền sản giật&lt;/strong&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Tiền sản giật là một biến chứng sản khoa, đặc trưng là có protein trong nước tiểu và tăng HA xuất hiện sau tuần thứ 20 của thai kỳ. Nếu không được điều trị, tiền sản giật có thể gây ra biến chứng nguy hiểm đe dọa tính mạng của cả mẹ và con. Để điều trị có thể dùng các thuốc hạ HA như dopegyt, hydralazin… nhưng chỉ sau khi đẻ thì HA mới có thể trở về bình thường được.&lt;br /&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;6.&lt;strong&gt; Do thuốc&lt;/strong&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Theo các nghiên cứu, rất nhiều loại thuốc chữa bệnh lại có thể là nguyên nhân gây ra tăng HA. Các thuốc chống trầm cảm có thể gây tăng HA hoặc làm HA tăng cao hơn. Các thuốc tránh thai dạng uống, thuốc chữa cảm cúm và nhiều loại thuốc thảo dược khác cũng có thể gây tăng HA, trong đó đáng chú ý có cam thảo và nhân sâm. Các chất gây nghiện và bị cấm dùng như cocain hoặc methamphetamin cũng đều làm tăng HA.&lt;br /&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Điều trị tăng huyết áp thứ phát&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Các biện pháp thay đổi lối sống như chế độ ăn uống lành mạnh, tăng cường tập thể dục thể thao, giảm cân… đóng vai trò quan trọng trong điều trị tăng HA thứ phát.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Phương pháp điều trị quan trọng nhất là phải phát hiện và loại bỏ nguyên nhân gây tăng HA, chỉ khi đó mới có thể làm giảm HA một cách bền vững và thậm chí đưa được HA về bình thường.&lt;br /&gt;Trong hầu hết các trường hợp, trước khi điều trị nguyên nhân hoặc trong thời gian chuẩn bị điều trị nguyên nhân thì việc dùng các thuốc hạ HA là hết sức cần thiết, nhất là trường hợp HA rất cao như u tủy thượng thận, tiền sản giật…&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Nhìn chung điều trị BN tăng HA thứ phát thường sau một thời gian mới có hiệu quả. Nhiều trường hợp điều trị khá phức tạp. Một số BN do tăng HA kéo dài và không được kiểm soát tốt HA nên đã có biến chứng thận, tim… vì thế HA có thể vẫn cao sau khi đã điều trị loại bỏ nguyên nhân.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;ThS. Nguyễn Quang Bảy&lt;br /&gt;Theo sức khỏe đời sống&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;----------------------------------&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Giảng Đường Y Khoa&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;a href="http://giangduongykhoa.blogspot.com/"&gt;http://giangduongykhoa.blogspot.com&lt;/a&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;a href="http://giangduongykhoa.net/"&gt;http://giangduongykhoa.net&lt;/a&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;-----------------------------------&lt;/p&gt;&lt;div class="blogger-post-footer"&gt;Giảng Đường Y Khoa - Nơi Hội Tụ Kiến Thức Y Khoa&lt;img width='1' height='1' src='https://blogger.googleusercontent.com/tracker/8347068896071358659-8534271828564151183?l=giangduongykhoa.blogspot.com' alt='' /&gt;&lt;/div&gt;</content><link rel='replies' type='application/atom+xml' href='http://giangduongykhoa.blogspot.com/feeds/8534271828564151183/comments/default' title='Đăng Nhận xét'/><link rel='replies' type='text/html' href='http://giangduongykhoa.blogspot.com/2011/01/nguyen-nhan-va-cach-chua-benh-tang.html#comment-form' title='0 Nhận xét'/><link rel='edit' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/8347068896071358659/posts/default/8534271828564151183'/><link rel='self' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/8347068896071358659/posts/default/8534271828564151183'/><link rel='alternate' type='text/html' href='http://giangduongykhoa.blogspot.com/2011/01/nguyen-nhan-va-cach-chua-benh-tang.html' title='Nguyên nhân và cách chữa bệnh tăng huyết áp thứ phát'/><author><name>Giảng Đường Y Khoa</name><uri>http://www.blogger.com/profile/01045762399869292181</uri><email>noreply@blogger.com</email><gd:image rel='http://schemas.google.com/g/2005#thumbnail' width='32' height='32' src='http://1.bp.blogspot.com/_iO0u_-8tJ8E/S95LXKfU_tI/AAAAAAAAAcY/p80KgeQ8pf0/S220/logo-1.png'/></author><thr:total>0</thr:total></entry><entry><id>tag:blogger.com,1999:blog-8347068896071358659.post-1355115912580702391</id><published>2011-01-21T08:53:00.001-08:00</published><updated>2011-01-21T08:53:48.493-08:00</updated><category scheme='http://www.blogger.com/atom/ns#' term='Y Học Phổ Thông'/><title type='text'>Người cao huyết áp không nên nói nhiều</title><content type='html'>&lt;p&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Sau hai chục năm nghiên cứu, bác sĩ James Lynch và cộng sự nhận thấy rằng, khi ta nói, không chỉ thanh quản hoạt động mà các cơ quan khác cũng chịu ảnh hưởng. Rõ nét nhất là hệ tim mạch với biểu hiện tăng huyết áp động mạch.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Khi cho một nhóm sinh viên đại học đọc to một trang sách và liên tục đo huyết áp của họ bằng máy vi tính, các nhà khoa học nhận thấy huyết áp tăng dần trong quá trình đọc. Sự gia tăng này biểu hiện rõ nét hơn ở những người bị xúc động hoặc bực tức khi đọc.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Thử nghiệm khác tiến hành trên 38 người câm tình nguyện cũng cho thấy, khi họ tranh luận với nhau bằng ngôn ngữ dấu hiệu, huyết áp cũng tăng. Theo dõi tiến hành trên trẻ nhỏ cũng cho thấy, khi trẻ khóc, huyết áp tăng cao hơn bình thường.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Như vậy, khi giao tiếp (dù bằng lời nói hay dấu hiệu); lúc bị xúc động, hồi hộp, tức giận, huyết áp động mạch đều tăng.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Từ đánh giá thực nghiệm, các tác giả khuyên những người bị cao huyết áp nên tự kiềm chế, im lặng để nghe nhiều hơn là nói. Ngoài ra, cũng nên luôn cố gắng tạo cho mình một môi trường ấm cúng, nhẹ nhàng, tránh gây cảm xúc mạnh hoặc bực tức để đề phòng cơn tăng huyết áp đột ngột.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Theo Sức Khỏe Đời Sống&lt;br /&gt;-----------------------------------&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Giảng Đường Y Khoa&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;a href="http://giangduongykhoa.blogspot.com/"&gt;http://giangduongykhoa.blogspot.com&lt;/a&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;a href="http://giangduongykhoa.net/"&gt;http://giangduongykhoa.net&lt;/a&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;-----------------------------------&lt;/p&gt;&lt;div class="blogger-post-footer"&gt;Giảng Đường Y Khoa - Nơi Hội Tụ Kiến Thức Y Khoa&lt;img width='1' height='1' src='https://blogger.googleusercontent.com/tracker/8347068896071358659-1355115912580702391?l=giangduongykhoa.blogspot.com' alt='' /&gt;&lt;/div&gt;</content><link rel='replies' type='application/atom+xml' href='http://giangduongykhoa.blogspot.com/feeds/1355115912580702391/comments/default' title='Đăng Nhận xét'/><link rel='replies' type='text/html' href='http://giangduongykhoa.blogspot.com/2011/01/nguoi-cao-huyet-ap-khong-nen-noi-nhieu.html#comment-form' title='0 Nhận xét'/><link rel='edit' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/8347068896071358659/posts/default/1355115912580702391'/><link rel='self' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/8347068896071358659/posts/default/1355115912580702391'/><link rel='alternate' type='text/html' href='http://giangduongykhoa.blogspot.com/2011/01/nguoi-cao-huyet-ap-khong-nen-noi-nhieu.html' title='Người cao huyết áp không nên nói nhiều'/><author><name>Giảng Đường Y Khoa</name><uri>http://www.blogger.com/profile/01045762399869292181</uri><email>noreply@blogger.com</email><gd:image rel='http://schemas.google.com/g/2005#thumbnail' width='32' height='32' src='http://1.bp.blogspot.com/_iO0u_-8tJ8E/S95LXKfU_tI/AAAAAAAAAcY/p80KgeQ8pf0/S220/logo-1.png'/></author><thr:total>0</thr:total></entry><entry><id>tag:blogger.com,1999:blog-8347068896071358659.post-504617607534988257</id><published>2011-01-21T08:52:00.002-08:00</published><updated>2011-01-21T08:53:17.843-08:00</updated><category scheme='http://www.blogger.com/atom/ns#' term='Y Học Phổ Thông'/><title type='text'>Cẩn thận với cao huyết áp do thai kỳ</title><content type='html'>&lt;p&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Cao huyết áp do thai kỳ là một trong những vấn đề quan trọng trong sản khoa, đặc biệt là tiền sản giật và sản giật làm gia tăng các nguy cơ như nhau bong non, suy thận, các biến chứng tim mạch hay mạch máu não và thậm chí dẫn đến tử vong.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Ngoài ra, cao huyết áp do thai kỳ gây ảnh hưởng đáng kể đến sự phát triển của thai nhi, tăng tỷ lệ bệnh suất và tử suất. Bên cạnh việc giải quyết nguyên nhân bằng cách chấm dứt thai kỳ, thì điều trị ổn định cao huyết áp là vấn đề tiên quyết, đóng vai trò thiết yếu trong điều trị cao huyết áp do thai kỳ.&lt;br /&gt;1. Cơ chế của thuốc hạ áp có nguồn gốc patalazine&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Hydralazine hydrochloride là thuốc hạ áp có nguồn gốc từ patalazine, với cơ chế tác dụng là tạo ra ocid nitric (NO) trong tế bào cơ trơn, giúp làm giãn các cơ trơn trong mạch máu. Hydralazine làm giãn mạch trực tiếp, cho tác dụng lên động mạch mạnh hơn là lên tĩnh mạch. Sau khi uống, nồng độ đỉnh trong huyết thanh đạt được sau 2 giờ là 1,6-3,2mcg/ml.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Thuốc bắt đầu có tác dụng hạ áp sau khi uống 20 phút và kéo dài 2-4 giờ (Bệnh nhân được theo dõi huyết áp mỗi 4-6 giờ/ngày). Labetalol hydrochloride là thuốc ức chế beta không chọn lọc và ức chế chọn lọc alpha-1, có tác dụng làm giảm sức căng mạch máu, hạ áp nhanh trong những trường hợp cao huyết áp cấp, nặng, có ưu điểm là không gây tăng nhịp tim như các thuốc hạ áp khác.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Sau uống, nồng độ đỉnh trong huyết thanh đạt được từ 40 phút đến 120 phút với nồng độ 323mg/ml. Thuốc có tác dụng sau uống là 20 phút, tối đa sau 1 giờ và kéo dài 8 giờ.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Chúng tôi đã sử dụng hydralazine để hạ áp cho 98 trường hợp và labetolol trong 97 trường hợp tiền sản giật nặng, kết quả có khoảng 1/3 trường hợp huyết áp không ổn định dù đã được điều trị bằng hydralazine và labetolol.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Tỷ lệ các biến chứng của thai phụ trong nhóm sử dụng labetalol (26,1%) cao gấp 2 lần so với nhóm dùng hydralazine (10,2%). 9% sản phụ sử dụng labetolol bị sản giật so với 1% trong nhóm sử dụng hydralazine (P.0,01). Ngoài ra, các biến chứng phù phổi cấp, băng huyết sau sinh cũng thường gặp trong nhóm sử dụng labetolol.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Tình trạng thai nhi giữa 2 nhóm không có sự khác biệt đáng kể, không ghi nhận có trường hợp nào mất tim thai trong chuyển dạ.&lt;br /&gt;2. Nghiên cứu so sánh về các thuốc hạ áp&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Điều trị ổn định huyết áp đóng vai trò rất quan trọng trong điều trị biến chứng tiền sản giật. Tuy nhiên, việc sử dụng thuốc hạ áp phụ thuộc nhiều vào kinh nghiệm của bác sĩ lâm sàng, vì thực tế còn thiếu những bằng chứng khách quan làm cơ sở cho việc thiết lập phác đồ điều trị hiệu quả.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Sử dụng thuốc hạ áp để ổn định huyết áp không chỉ phụ thuộc vào liều thuốc, cách sử dụng mà còn vào tình trạng bệnh (đa số bệnh nhân có tổn thương thận với lượng đản bạch trung bình 5,23g/l). Do đó, việc ổn định huyết áp cho những trường hợp này thường rất khó khăn.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Xét về hiệu quả “ổn định huyết áp” trực tiếp, kết quả này một lần nữa khẳng định không có bằng chứng về hiệu quả vượt trội của hydralazine so với labetolol và ngược lại.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Trong một nghiên cứu gần đây nhất của nhóm bác sĩ Magee (LA, 2003): Qua phân tích số liệu từ 5 thử nghiệm lâm sàng so sánh labetolol và hydralazine trong điều trị cao huyết áp ở thai phụ, ghi nhận không có sự khác biệt về tỷ lệ cao huyết tồn tại sau điều trị giữa 2 nhóm.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Như vậy, vẫn chưa thể xác định thuốc hạ áp nào là tốt nhất vì cả hydralazine và labetolol đều có tỷ lệ điều trị thất bại tương tự nhau. Trong khi chưa có bằng chứng mới, hydralazine vẫn được xem là lựa chọn đầu tiên trong điều trị ổn định cao huyết áp thai kỳ.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Theo Sức Khoẻ Đời sống&lt;br /&gt;-----------------------------------&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Giảng Đường Y Khoa&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;a href="http://giangduongykhoa.blogspot.com/"&gt;http://giangduongykhoa.blogspot.com&lt;/a&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;a href="http://giangduongykhoa.net/"&gt;http://giangduongykhoa.net&lt;/a&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;-----------------------------------&lt;/p&gt;&lt;div class="blogger-post-footer"&gt;Giảng Đường Y Khoa - Nơi Hội Tụ Kiến Thức Y Khoa&lt;img width='1' height='1' src='https://blogger.googleusercontent.com/tracker/8347068896071358659-504617607534988257?l=giangduongykhoa.blogspot.com' alt='' /&gt;&lt;/div&gt;</content><link rel='replies' type='application/atom+xml' href='http://giangduongykhoa.blogspot.com/feeds/504617607534988257/comments/default' title='Đăng Nhận xét'/><link rel='replies' type='text/html' href='http://giangduongykhoa.blogspot.com/2011/01/can-than-voi-cao-huyet-ap-do-thai-ky.html#comment-form' title='0 Nhận xét'/><link rel='edit' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/8347068896071358659/posts/default/504617607534988257'/><link rel='self' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/8347068896071358659/posts/default/504617607534988257'/><link rel='alternate' type='text/html' href='http://giangduongykhoa.blogspot.com/2011/01/can-than-voi-cao-huyet-ap-do-thai-ky.html' title='Cẩn thận với cao huyết áp do thai kỳ'/><author><name>Giảng Đường Y Khoa</name><uri>http://www.blogger.com/profile/01045762399869292181</uri><email>noreply@blogger.com</email><gd:image rel='http://schemas.google.com/g/2005#thumbnail' width='32' height='32' src='http://1.bp.blogspot.com/_iO0u_-8tJ8E/S95LXKfU_tI/AAAAAAAAAcY/p80KgeQ8pf0/S220/logo-1.png'/></author><thr:total>0</thr:total></entry><entry><id>tag:blogger.com,1999:blog-8347068896071358659.post-7847393253051680878</id><published>2011-01-21T08:52:00.001-08:00</published><updated>2011-01-21T08:52:39.536-08:00</updated><category scheme='http://www.blogger.com/atom/ns#' term='Thông Tin Y Học'/><title type='text'>Nghiên cứu mới ớt cay làm giảm huyết áp cao</title><content type='html'>&lt;p&gt;Một công trình nghiên cứu mới của các nhà khoa học Trung Quốc, được đăng trên tạp chí khoa học Cell Metabolism, cho thấy các chất capsaicin, tạo nên vị cay của ớt, có vẻ như giúp giảm huyết áp.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Nghiên cứu mới ớt cay làm giảm huyết áp cao&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br /&gt;Theo các nhà khoa học này, việc sử dụng dài hạn chất capsaicin trong ớt có thể giúp giảm huyết áp trong loài chuột. Chất này kích hoạt phần tiếp hợp của tế bào thành mạch máu.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Khi đã được kích hoạt, những tế bào này sản xuất ra ôxit nitơ, một phân tử có chức năng bảo vệ mạch máu chống viêm và giữ cho mạch máu hoạt động bình thường. Tác giả công trình nghiên cứu này, TS. Zhiming Zhu thuộc Trường Đại học Quân y 3 ở Trùng Khánh, Trung Quốc, nói rằng đây là công trình đầu tiên nghiên cứu về tác dụng của việc sử dụng dài hạn chất capsaicin đối với huyết áp.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Tại miền Đông Bắc Trung Quốc, tỷ lệ người bị huyết áp cao trong dân số là 20%, còn miền Tây Nam Trung Quốc, tỷ lệ này là từ 10 – 14%. Zhu nói rằng người dân vùng Tây Nam Trung Quốc, trong đó có Tứ Xuyên, Quý Châu, Vân Nam và Hồ Nam thích ăn những món cay có nhiều ớt.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Theo sức khỏe đời sống&lt;br /&gt;-----------------------------------&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Giảng Đường Y Khoa&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;a href="http://giangduongykhoa.blogspot.com/"&gt;http://giangduongykhoa.blogspot.com&lt;/a&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;a href="http://giangduongykhoa.net/"&gt;http://giangduongykhoa.net&lt;/a&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;-----------------------------------&lt;/p&gt;&lt;div class="blogger-post-footer"&gt;Giảng Đường Y Khoa - Nơi Hội Tụ Kiến Thức Y Khoa&lt;img width='1' height='1' src='https://blogger.googleusercontent.com/tracker/8347068896071358659-7847393253051680878?l=giangduongykhoa.blogspot.com' alt='' /&gt;&lt;/div&gt;</content><link rel='replies' type='application/atom+xml' href='http://giangduongykhoa.blogspot.com/feeds/7847393253051680878/comments/default' title='Đăng Nhận xét'/><link rel='replies' type='text/html' href='http://giangduongykhoa.blogspot.com/2011/01/nghien-cuu-moi-ot-cay-lam-giam-huyet-ap.html#comment-form' title='0 Nhận xét'/><link rel='edit' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/8347068896071358659/posts/default/7847393253051680878'/><link rel='self' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/8347068896071358659/posts/default/7847393253051680878'/><link rel='alternate' type='text/html' href='http://giangduongykhoa.blogspot.com/2011/01/nghien-cuu-moi-ot-cay-lam-giam-huyet-ap.html' title='Nghiên cứu mới ớt cay làm giảm huyết áp cao'/><author><name>Giảng Đường Y Khoa</name><uri>http://www.blogger.com/profile/01045762399869292181</uri><email>noreply@blogger.com</email><gd:image rel='http://schemas.google.com/g/2005#thumbnail' width='32' height='32' src='http://1.bp.blogspot.com/_iO0u_-8tJ8E/S95LXKfU_tI/AAAAAAAAAcY/p80KgeQ8pf0/S220/logo-1.png'/></author><thr:total>0</thr:total></entry><entry><id>tag:blogger.com,1999:blog-8347068896071358659.post-5068483040189764489</id><published>2011-01-21T08:51:00.001-08:00</published><updated>2011-01-21T08:51:54.071-08:00</updated><category scheme='http://www.blogger.com/atom/ns#' term='Y Học Cổ Truyền'/><title type='text'>Quả táo mèo có tác dụng chữa bệnh cao huyết áp</title><content type='html'>&lt;p&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Táo mèo trong Đông y có tên là sơn tra, có tác dụng hạ huyết áp nhờ làm giãn mạch ngoại vi. Mặt khác, nó còn giúp hạ mỡ máu, chống huyết khối, làm giãn động mạch vành, cải thiện sức co bóp cơ tim, phòng chống tích cực các biến chứng do cao huyết áp gây ra.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Quả táo mèo có tác dụng chữa bệnh cao huyết áp&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Một số bài thuốc dùng táo mèo chữa bệnh cao huyết áp:&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Bài 1: Sơn tra 15g, hà diệp (lá sen) 20 g. Hai thứ tán vụn, hãm với nước sôi trong bình kín, chừng 20 phút thì dùng được, uống thay trà trong ngày.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Công dụng: Hoạt huyết hóa ứ, thanh dẫn thông trệ, làm giãn mạch máu, dùng thích hợp cho người bị cao huyết áp và béo phì có kèm theo đau đầu, hoa mắt, chóng mặt.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Bài 2: Sơn tra 10 g, cúc hoa 10 g, lá trà tươi 10 g, ba thứ hãm với nước sôi trong bình kín, sau 15 phút thì dùng được, uống thay trà trong ngày.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Công dụng: Thanh nhiệt trừ đàm, bình can tiềm dương, dùng cho người bị cao huyết áp, bệnh lý mạch vành và rối loạn lipid máu.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Bài 3: Sơn tra 24 g, cúc hoa 15 g, kim ngân hoa 15 g, tang diệp (lá dâu) 12 g. Tất cả sấy khô, tán nhỏ, hãm với nước sôi trong bình kín, chừng 15 phút thì dùng được, uống thay trà trong ngày.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Công dụng: Thanh can nhiệt, hóa ứ tích, dùng thích hợp cho những người bị cao huyết áp thuộc thể can nhiệt ứ trở biểu hiện bằng các triệu chứng như đau đầu, chóng mặt, hoa mắt, mất ngủ, dễ cáu giận, miệng khô họng khát, đại tiện táo, chất lưỡi đỏ&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Bài 4: Sơn tra 50 g, gạo tẻ 50 g, đường phèn vừa đủ. Sơn tra bỏ hạt, thái phiến, đem nấu với gạo tẻ thành cháo, chế thêm đường phèn, chia ăn vài lần trong ngày.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Công dụng: Khứ ứ huyết, tiêu thực tích, dùng cho những người bị cao huyết áp, rối loạn lipid máu.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Bài 5: Sơn tra sao đen 12 g, thảo quyết minh 12 g, hoa cúc trắng 9 g. Ba thứ sấy khô, tán nhỏ, hãm với nước sôi trong bình kín, sau 20 phút thì dùng được, uống thay trà trong ngày.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Công dụng: Sơ phong, tán nhiệt, bình can, giáng áp, nhuận tràng thông tiện, dùng rất tốt cho những người bị cao huyết áp có kèm theo táo bón kéo dài.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Bài 6: Sơn tra 9-15 g, hoàng kỳ 30-60 g, cát căn 15-30 g, tang ký sinh 15-30 g, đan sâm 20-40 g. Tất cả đem sắc 2 lần, mỗi lần 30 phút, sau đó cô lại còn khoảng 300-400 ml, chia uống vài lần trong ngày.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Công dụng: Bổ khí hoạt huyết, ích tâm kiện não, dùng thích hợp cho những người bị cao huyết áp có kèm theo rối loạn tuần hoàn não. Nó cũng cải thiện rối loạn nhịp tim thuộc thể khí hư huyết ứ, biểu hiện bằng các triệu chứng như: Tinh thần mệt mỏi, hay có cảm giác khó thở, ngại hoạt động, kém ăn, hay hoa mắt chóng mặt, dễ vã mồ hôi, đau tức hoặc đau nhói vùng ngực sườn, mạch có lúc không đều, đại tiện nát, phụ nữ kinh nguyệt không đều, bế kinh hoặc thống kinh.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Bài 7: Sơn tra 16 g, sinh đỗ trọng 16 g, thảo quyết minh 16 g, tiên ngọc mễ tu (râu ngô tươi) 62 g, hoàng bá 6 g, sinh đại hoàng 3 g. Tất cả đem sắc với 6 bát nước, cô lại còn 3 bát, chia uống vài lần trong ngày.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Công dụng: Bổ can thận, thanh can nhiệt, giáng áp, dùng thích hợp cho những người bị cao huyết áp, béo phì.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Bài 8: Hải đới 30 g, sơn tra 30 g, mã thầy 10 củ, chanh 3 quả. Hải đới rửa sạch, cắt ngắn; sơn tra bỏ hạt, thái miếng; mã thầy bóc vỏ, thái vụn; chanh cắt lát. Tất cả đem sắc kỹ, chia uống vài lần trong ngày.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Công dụng: Hoạt huyết hóa ứ, cường tim lợi thủy, giáng áp, dùng tốt cho người bị cao huyết áp.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Bài 9: Sơn tra 30 g, táo tây 30 g, rau cần tây 3 cây, đường phèn vừa đủ. Sơn tra và táo bỏ hạt, thái miếng; rau cần rửa sạch, cắt đoạn. Tất cả cho vào bát to, đổ thêm 300 ml nước rồi đem hấp cách thủy, sau chừng 30 phút là được, cho thêm đường phèn, chia uống vài lần trong ngày.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Công dụng: Hoạt huyết, giáng áp, dùng cho người bị cao huyết áp và rối loạn lipid máu.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Bài 10: Sơn tra 150 g, đậu xanh 150 g, đường phèn vừa đủ. Sơn tra bỏ hạt, thái miếng; đậu xanh rửa sạch, ngâm trong nước 30 phút. Hai thứ đem sắc kỹ, cho thêm đường phèn, chia uống hai lần trong ngày.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Công dụng: Hoạt huyết hóa ứ, thanh nhiệt giáng áp, dùng thích hợp cho người bị cao huyết áp có các biểu hiện nhiệt chứng.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Bài 11: Sinh địa 200 g, sơn tra 500 g, đường trắng 100 g. Sinh địa rửa sạch, thái lát; sơn tra bỏ hạt, thái phiến. Hai thứ đem sắc trước cho thật nhừ, cho thêm đường rồi đánh nhuyễn thành dạng cao lỏng, mỗi ngày uống 3 lần, mỗi lần 2 thìa canh.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Công dụng: Dưỡng âm lương huyết, hoạt huyết giáng áp và làm mềm mạch máu, dùng cho người bị cao huyết áp thuộc thể âm hư, biểu hiện bằng các triệu chứng người gầy, lòng bàn tay, bàn chân nóng, hay có cảm giác sốt nhẹ về chiều, miệng khô họng khát, đại tiện táo, tiểu tiện sẻn đỏ&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Bài 12: Sơn tra 30 g, quyết minh tử 30 g, lá sen tươi nửa lá, đại táo 4 quả, thịt lợn nạc 250 g, gia vị vừa đủ. Sơn tra bỏ hạt, thái phiến; quyết minh tử rửa sạch; đại táo bỏ hạt; lá sen rửa sạch thái nhỏ; thịt lợn rửa sạch thái miếng. Tất cả cho vào nồi hầm nhừ, nêm đủ gia vị, chia ăn vài lần.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Công dụng: Thanh can tiết nhiệt, làm giãn mạch máu và giáng áp, dùng cho người bị cao huyết áp thuộc thể Can dương thượng xung, biểu hiện: mặt đỏ, mắt đỏ, đau đầu, hoa mắt, chóng mặt, tính tình nóng nảy, ngực sườn đầy tức, đại tiện táo, có thể hay chảy máu cam.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Theo Sức khoẻ đời sống&lt;br /&gt;-----------------------------------&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Giảng Đường Y Khoa&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;a href="http://giangduongykhoa.blogspot.com/"&gt;http://giangduongykhoa.blogspot.com&lt;/a&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;a href="http://giangduongykhoa.net/"&gt;http://giangduongykhoa.net&lt;/a&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;-----------------------------------&lt;/p&gt;&lt;div class="blogger-post-footer"&gt;Giảng Đường Y Khoa - Nơi Hội Tụ Kiến Thức Y Khoa&lt;img width='1' height='1' src='https://blogger.googleusercontent.com/tracker/8347068896071358659-5068483040189764489?l=giangduongykhoa.blogspot.com' alt='' /&gt;&lt;/div&gt;</content><link rel='replies' type='application/atom+xml' href='http://giangduongykhoa.blogspot.com/feeds/5068483040189764489/comments/default' title='Đăng Nhận xét'/><link rel='replies' type='text/html' href='http://giangduongykhoa.blogspot.com/2011/01/qua-tao-meo-co-tac-dung-chua-benh-cao.html#comment-form' title='0 Nhận xét'/><link rel='edit' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/8347068896071358659/posts/default/5068483040189764489'/><link rel='self' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/8347068896071358659/posts/default/5068483040189764489'/><link rel='alternate' type='text/html' href='http://giangduongykhoa.blogspot.com/2011/01/qua-tao-meo-co-tac-dung-chua-benh-cao.html' title='Quả táo mèo có tác dụng chữa bệnh cao huyết áp'/><author><name>Giảng Đường Y Khoa</name><uri>http://www.blogger.com/profile/01045762399869292181</uri><email>noreply@blogger.com</email><gd:image rel='http://schemas.google.com/g/2005#thumbnail' width='32' height='32' src='http://1.bp.blogspot.com/_iO0u_-8tJ8E/S95LXKfU_tI/AAAAAAAAAcY/p80KgeQ8pf0/S220/logo-1.png'/></author><thr:total>0</thr:total></entry><entry><id>tag:blogger.com,1999:blog-8347068896071358659.post-1123832194712425269</id><published>2011-01-21T08:50:00.000-08:00</published><updated>2011-01-21T08:51:19.126-08:00</updated><category scheme='http://www.blogger.com/atom/ns#' term='Y Học Cổ Truyền'/><title type='text'>Nho có thể chống lại bệnh cao huyết áp</title><content type='html'>&lt;p&gt;Các nhà nghiên cứu thuộc Viện Tim mạch của Đại học Michigan, Mỹ cho biết ăn nho có thể giúp bảo vệ tim chống lại bệnh huyết áp cao và làm giảm các bệnh về tim mạch.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Nho có thể chống lại bệnh cao huyết áp&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Việc thử nghiệm đã được tiến hành trên một số loài động vật gặm nhấm, tất cả đều được áp dụng một chế độ ăn nhiều muối để tạo điều kiện cho bệnh tim mạch xuất hiện. Tuy nhiên, chỉ một nhóm được cho ăn thêm bột tổng hợp các loại nho (xanh, đỏ và đen), còn nhóm còn lại được dùng thuốc chống huyết áp cao.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Kết quả thử nghiệm cho thấy, huyết áp của nhóm ăn bột nho giảm hơn so với nhóm kia, đồng thời tim cũng hoạt động tốt hơn và nhất là ít bị tổn thương hệ tim mạch.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Trong khi đó, nhóm còn lại dùng thuốc chống huyết áp cao cũng hạn chế được bệnh nhưng bị nhiều tổn thương hệ tim mạch hơn nhóm ăn bột nho.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Theo tiến sĩ Steve Bolling, chuyên gia về tim mạch của Đại học Michigan, kết quả này đã chứng minh rằng nho – giống như các loại rau và quả khác – có nhiều tác dụng, nhất là khả năng làm giảm nguy cơ huyết áp cao.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Các nhà nghiên cứu đã phát hiện thấy trong tất cả các phần của quả nho (vỏ, phần thịt và hạt) đều có flavonoide, một chất chống oxy hoá và có khả năng giảm huyết áp.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Tiến sĩ Bolling cho biết: “Những động vật trong công trình nghiên cứu này, cũng giống như trường hợp của rất nhiều người, bị suy tim do bệnh huyết áp cao – hậu quả của chế độ ăn quá mặn”.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Ông khuyên rằng những người mắc bệnh huyết áp cao và các bệnh về tim mạch nên kết hợp việc ăn nhiều nho với các thuốc điều trị cũ.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Theo Vietnamplus&lt;br /&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;-----------------------------------&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Giảng Đường Y Khoa&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;a href="http://giangduongykhoa.blogspot.com/"&gt;http://giangduongykhoa.blogspot.com&lt;/a&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;a href="http://giangduongykhoa.net/"&gt;http://giangduongykhoa.net&lt;/a&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;-----------------------------------&lt;/p&gt;&lt;div class="blogger-post-footer"&gt;Giảng Đường Y Khoa - Nơi Hội Tụ Kiến Thức Y Khoa&lt;img width='1' height='1' src='https://blogger.googleusercontent.com/tracker/8347068896071358659-1123832194712425269?l=giangduongykhoa.blogspot.com' alt='' /&gt;&lt;/div&gt;</content><link rel='replies' type='application/atom+xml' href='http://giangduongykhoa.blogspot.com/feeds/1123832194712425269/comments/default' title='Đăng Nhận xét'/><link rel='replies' type='text/html' href='http://giangduongykhoa.blogspot.com/2011/01/nho-co-chong-lai-benh-cao-huyet-ap.html#comment-form' title='0 Nhận xét'/><link rel='edit' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/8347068896071358659/posts/default/1123832194712425269'/><link rel='self' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/8347068896071358659/posts/default/1123832194712425269'/><link rel='alternate' type='text/html' href='http://giangduongykhoa.blogspot.com/2011/01/nho-co-chong-lai-benh-cao-huyet-ap.html' title='Nho có thể chống lại bệnh cao huyết áp'/><author><name>Giảng Đường Y Khoa</name><uri>http://www.blogger.com/profile/01045762399869292181</uri><email>noreply@blogger.com</email><gd:image rel='http://schemas.google.com/g/2005#thumbnail' width='32' height='32' src='http://1.bp.blogspot.com/_iO0u_-8tJ8E/S95LXKfU_tI/AAAAAAAAAcY/p80KgeQ8pf0/S220/logo-1.png'/></author><thr:total>0</thr:total></entry><entry><id>tag:blogger.com,1999:blog-8347068896071358659.post-5917593066369914476</id><published>2011-01-21T08:49:00.004-08:00</published><updated>2011-01-21T08:50:27.396-08:00</updated><category scheme='http://www.blogger.com/atom/ns#' term='Y Học Phổ Thông'/><title type='text'>Ba mẹ hút thuốc thì con bị tăng huyết áp</title><content type='html'>&lt;p&gt;Ba mẹ hút thuốc trước mặt con có thể làm tăng nguy cơ bị bệnh tăng huyết áp khi trẻ lớn lên. Theo các nhà khoa học, đây là nghiên cứu đầu tiên cho thấy mối liên quan giữa việc tiếp xúc với môi trường có chứa nicotine và bệnh tăng huyết áp.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Ba mẹ hút thuốc thì con bị tăng huyết áp&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Trong nghiên cứu này, các nhà khoa học thuộc Trường ĐH Heidelberg (Đức) đã tiến hành khảo sát 4.236 trẻ mẫu giáo trong độ tuổi 4-7.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Đồng thời phỏng vấn thói quen hút thuốc lá của ba mẹ những đứa trẻ này.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Kết quả cho thấy những trẻ có ba mẹ hút thuốc lá tăng 21% nguy cơ bị bệnh cao huyết áp so với những trẻ có ba mẹ không hút thuốc lá.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Điều này vẫn đúng sau khi các nhà nghiên cứu điều chỉnh các yếu tố có thể làm sai lệch kết quả như giới tính, chỉ số khối cơ thể…&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;BS NGUYỄN TẤT BÌNH&lt;br /&gt;Theo Circulation&lt;br /&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;-----------------------------------&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Giảng Đường Y Khoa&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;a href="http://giangduongykhoa.blogspot.com/"&gt;http://giangduongykhoa.blogspot.com&lt;/a&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;a href="http://giangduongykhoa.net/"&gt;http://giangduongykhoa.net&lt;/a&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;-----------------------------------&lt;/p&gt;&lt;div class="blogger-post-footer"&gt;Giảng Đường Y Khoa - Nơi Hội Tụ Kiến Thức Y Khoa&lt;img width='1' height='1' src='https://blogger.googleusercontent.com/tracker/8347068896071358659-5917593066369914476?l=giangduongykhoa.blogspot.com' alt='' /&gt;&lt;/div&gt;</content><link rel='replies' type='application/atom+xml' href='http://giangduongykhoa.blogspot.com/feeds/5917593066369914476/comments/default' title='Đăng Nhận xét'/><link rel='replies' type='text/html' href='http://giangduongykhoa.blogspot.com/2011/01/ba-me-hut-thuoc-thi-con-bi-tang-huyet.html#comment-form' title='0 Nhận xét'/><link rel='edit' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/8347068896071358659/posts/default/5917593066369914476'/><link rel='self' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/8347068896071358659/posts/default/5917593066369914476'/><link rel='alternate' type='text/html' href='http://giangduongykhoa.blogspot.com/2011/01/ba-me-hut-thuoc-thi-con-bi-tang-huyet.html' title='Ba mẹ hút thuốc thì con bị tăng huyết áp'/><author><name>Giảng Đường Y Khoa</name><uri>http://www.blogger.com/profile/01045762399869292181</uri><email>noreply@blogger.com</email><gd:image rel='http://schemas.google.com/g/2005#thumbnail' width='32' height='32' src='http://1.bp.blogspot.com/_iO0u_-8tJ8E/S95LXKfU_tI/AAAAAAAAAcY/p80KgeQ8pf0/S220/logo-1.png'/></author><thr:total>0</thr:total></entry><entry><id>tag:blogger.com,1999:blog-8347068896071358659.post-8959277141338680919</id><published>2011-01-21T08:49:00.003-08:00</published><updated>2011-01-21T08:49:49.115-08:00</updated><category scheme='http://www.blogger.com/atom/ns#' term='Thông Tin Y Học'/><title type='text'>Khói thuốc lá làm tăng huyết áp ở trẻ em</title><content type='html'>&lt;p&gt;Kết quả nghiên cứu khoa học của trường Đại học Berne (Thụy Sỹ) vừa đăng trên Journal of the American Heart Association của Mỹ ngày 11-1 cho thấy thói quen hút thuốc lá gần trẻ nhỏ có thể làm gia tăng huyết áp ở chúng.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Khói thuốc lá làm tăng huyết áp ở trẻ em&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Các nhà khoa học đã tiến hành kiểm tra sức khỏe 4.236 trẻ em mẫu giáo (6 tuổi) ở Đức. Kết quả cho thấy những trẻ nhỏ có bố mẹ hút thuốc lá có 21% nguy cơ mắc chứng huyết áp tâm thu so với những trẻ có bố mẹ không hút thuốc.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Kết quả này đo được sau khi đã điều chỉnh các nhân tố nguy cơ tim mạch khác như cân nặng khi sinh, chỉ số cơ thể hay chứng tăng huyết áp ở bố mẹ. Việc bố mẹ hút thuốc không chỉ ảnh hưởng tiêu cực tới chức năng phổi của trẻ nhỏ, mà còn tạo ra nguy cơ đối với sức khỏe tim mạch của chúng trong tương lai.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;H.X. (Theo TTXVN)&lt;br /&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;-----------------------------------&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Giảng Đường Y Khoa&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;a href="http://giangduongykhoa.blogspot.com/"&gt;http://giangduongykhoa.blogspot.com&lt;/a&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;a href="http://giangduongykhoa.net/"&gt;http://giangduongykhoa.net&lt;/a&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;-----------------------------------&lt;/p&gt;&lt;div class="blogger-post-footer"&gt;Giảng Đường Y Khoa - Nơi Hội Tụ Kiến Thức Y Khoa&lt;img width='1' height='1' src='https://blogger.googleusercontent.com/tracker/8347068896071358659-8959277141338680919?l=giangduongykhoa.blogspot.com' alt='' /&gt;&lt;/div&gt;</content><link rel='replies' type='application/atom+xml' href='http://giangduongykhoa.blogspot.com/feeds/8959277141338680919/comments/default' title='Đăng Nhận xét'/><link rel='replies' type='text/html' href='http://giangduongykhoa.blogspot.com/2011/01/khoi-thuoc-la-lam-tang-huyet-ap-o-tre.html#comment-form' title='0 Nhận xét'/><link rel='edit' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/8347068896071358659/posts/default/8959277141338680919'/><link rel='self' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/8347068896071358659/posts/default/8959277141338680919'/><link rel='alternate' type='text/html' href='http://giangduongykhoa.blogspot.com/2011/01/khoi-thuoc-la-lam-tang-huyet-ap-o-tre.html' title='Khói thuốc lá làm tăng huyết áp ở trẻ em'/><author><name>Giảng Đường Y Khoa</name><uri>http://www.blogger.com/profile/01045762399869292181</uri><email>noreply@blogger.com</email><gd:image rel='http://schemas.google.com/g/2005#thumbnail' width='32' height='32' src='http://1.bp.blogspot.com/_iO0u_-8tJ8E/S95LXKfU_tI/AAAAAAAAAcY/p80KgeQ8pf0/S220/logo-1.png'/></author><thr:total>0</thr:total></entry><entry><id>tag:blogger.com,1999:blog-8347068896071358659.post-3806529016743178786</id><published>2011-01-21T08:49:00.001-08:00</published><updated>2011-01-21T08:49:23.809-08:00</updated><category scheme='http://www.blogger.com/atom/ns#' term='Y Học Cổ Truyền'/><title type='text'>Ăn tỏi để giảm bệnh huyết áp</title><content type='html'>&lt;p&gt;Tỏi từng được xem là kháng sinh hiệu quả, nhưng giờ đây các nhà khoa học cho biết nó có thể giải quyết được một vấn nạn hiện đại – đó là bệnh cao huyết áp.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Ăn tỏi để giảm bệnh huyết áp&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Các nhà khoa học thuộc Đại học Adelaide (Úc) phát hiện ra rằng chiết xuất từ tỏi có thể giúp giảm huyết áp.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Theo trang tin news.com.au, các chuyên gia đã tiến hành một cuộc thử nghiệm kéo dài 12 tuần trên 50 người và nhận thấy tỏi có thể được dùng phụ thêm vào các loại thuốc truyền thống trị huyết áp cao.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Theo trưởng nhóm nghiên cứu Karin Ried thuộc Đại học Adelaide, tỏi có đặc tính chống huyết áp cao là nhờ nó kích thích việc sản sinh nitric oxide và hydrogen sulphide, những hóa chất có tác dụng làm giãn nở mạch máu&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Theo Thanh niên&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br /&gt;-----------------------------------&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Giảng Đường Y Khoa&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;a href="http://giangduongykhoa.blogspot.com/"&gt;http://giangduongykhoa.blogspot.com&lt;/a&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;a href="http://giangduongykhoa.net/"&gt;http://giangduongykhoa.net&lt;/a&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;-----------------------------------&lt;/p&gt;&lt;div class="blogger-post-footer"&gt;Giảng Đường Y Khoa - Nơi Hội Tụ Kiến Thức Y Khoa&lt;img width='1' height='1' src='https://blogger.googleusercontent.com/tracker/8347068896071358659-3806529016743178786?l=giangduongykhoa.blogspot.com' alt='' /&gt;&lt;/div&gt;</content><link rel='replies' type='application/atom+xml' href='http://giangduongykhoa.blogspot.com/feeds/3806529016743178786/comments/default' title='Đăng Nhận xét'/><link rel='replies' type='text/html' href='http://giangduongykhoa.blogspot.com/2011/01/toi-e-giam-benh-huyet-ap.html#comment-form' title='0 Nhận xét'/><link rel='edit' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/8347068896071358659/posts/default/3806529016743178786'/><link rel='self' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/8347068896071358659/posts/default/3806529016743178786'/><link rel='alternate' type='text/html' href='http://giangduongykhoa.blogspot.com/2011/01/toi-e-giam-benh-huyet-ap.html' title='Ăn tỏi để giảm bệnh huyết áp'/><author><name>Giảng Đường Y Khoa</name><uri>http://www.blogger.com/profile/01045762399869292181</uri><email>noreply@blogger.com</email><gd:image rel='http://schemas.google.com/g/2005#thumbnail' width='32' height='32' src='http://1.bp.blogspot.com/_iO0u_-8tJ8E/S95LXKfU_tI/AAAAAAAAAcY/p80KgeQ8pf0/S220/logo-1.png'/></author><thr:total>0</thr:total></entry><entry><id>tag:blogger.com,1999:blog-8347068896071358659.post-1150720761838285784</id><published>2011-01-21T08:48:00.001-08:00</published><updated>2011-01-21T08:48:15.166-08:00</updated><category scheme='http://www.blogger.com/atom/ns#' term='Y Học Phổ Thông'/><title type='text'>Nhiều bệnh nhân nhập viện do tăng huyết áp</title><content type='html'>&lt;p&gt;Tăng huyết áp là một hội chứng tim mạch tiến triển được khẳng định khi: (1) huyết áp đo tại cơ sở y tế &gt;/= 140/90 mm Hg hoặc khi đo tại nhà và khi theo dõi huyết áp lưu động 24 giờ &gt;/= 135/85 mm Hg hoặc (2) huyết áp không tăng nhưng có bằng chứng tăng huyết áp như đang dùng thuốc hạ huyết áp hoặc có biến chứng như bệnh tim do tăng huyết áp, tai biến mạch máu não.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Nhiều bệnh nhân nhập viện do tăng huyết áp&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;PN – GS-BS Nguyễn Lân Việt, Viện trưởng Viện Tim mạch Quốc gia cho biết, thời tiết lạnh kéo dài làm tăng số lượng bệnh nhân nhập viện do những biến chứng của tăng huyết áp; đặc biệt là những biến chứng nặng như: đột quỵ, phình mạch máu não, tắc mạch máu não gây hôn mê…&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Cũng theo GS Lân Việt, nguy hiểm nhất là lạnh đột ngột dẫn đến việc huyết áp tăng vọt bất ngờ (do co mạch). Đối với bệnh nhân có bệnh lý huyết áp cao, cần phải chú ý khi trời trở lạnh. Điều đáng lưu ý là người nhà bệnh nhân thường cho là trúng gió dẫn đến việc cấp cứu chậm trễ.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Theo Tổ chức Y tế thế giới (WHO), bệnh huyết áp là một trong những yếu tố nguy cơ, ảnh hưởng đến gánh nặng bệnh tật toàn cầu. Tại Việt Nam, tỷ lệ tăng huyết áp ngày càng cao. Theo kết quả điều tra của Viện Tim mạch Quốc gia gần đây cho thấy, tỷ lệ tăng huyết áp là 25,1% ở người lớn (trên 25 tuổi). GS Lân Việt cho biết, kiến thức của người dân về bệnh tăng huyết áp còn hạn chế, đặc biệt ở vùng nông thôn. Cũng theo một điều tra của Viện Tim mạch Quốc gia, có tới 77% số người được hỏi hiểu sai về bệnh và các yếu tố liên quan đến tăng huyết áp, và hơn 51% người dân bị tăng huyết áp nhưng không biết mình bị bệnh.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Trúc Khuê&lt;br /&gt;Theo phunuonline&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br /&gt;-----------------------------------&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Giảng Đường Y Khoa&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;a href="http://giangduongykhoa.blogspot.com/"&gt;http://giangduongykhoa.blogspot.com&lt;/a&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;a href="http://giangduongykhoa.net/"&gt;http://giangduongykhoa.net&lt;/a&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;-----------------------------------&lt;/p&gt;&lt;div class="blogger-post-footer"&gt;Giảng Đường Y Khoa - Nơi Hội Tụ Kiến Thức Y Khoa&lt;img width='1' height='1' src='https://blogger.googleusercontent.com/tracker/8347068896071358659-1150720761838285784?l=giangduongykhoa.blogspot.com' alt='' /&gt;&lt;/div&gt;</content><link rel='replies' type='application/atom+xml' href='http://giangduongykhoa.blogspot.com/feeds/1150720761838285784/comments/default' title='Đăng Nhận xét'/><link rel='replies' type='text/html' href='http://giangduongykhoa.blogspot.com/2011/01/nhieu-benh-nhan-nhap-vien-do-tang-huyet.html#comment-form' title='0 Nhận xét'/><link rel='edit' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/8347068896071358659/posts/default/1150720761838285784'/><link rel='self' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/8347068896071358659/posts/default/1150720761838285784'/><link rel='alternate' type='text/html' href='http://giangduongykhoa.blogspot.com/2011/01/nhieu-benh-nhan-nhap-vien-do-tang-huyet.html' title='Nhiều bệnh nhân nhập viện do tăng huyết áp'/><author><name>Giảng Đường Y Khoa</name><uri>http://www.blogger.com/profile/01045762399869292181</uri><email>noreply@blogger.com</email><gd:image rel='http://schemas.google.com/g/2005#thumbnail' width='32' height='32' src='http://1.bp.blogspot.com/_iO0u_-8tJ8E/S95LXKfU_tI/AAAAAAAAAcY/p80KgeQ8pf0/S220/logo-1.png'/></author><thr:total>0</thr:total></entry><entry><id>tag:blogger.com,1999:blog-8347068896071358659.post-5563601814829278335</id><published>2011-01-21T08:47:00.001-08:00</published><updated>2011-01-21T08:47:40.213-08:00</updated><category scheme='http://www.blogger.com/atom/ns#' term='Y Học Phổ Thông'/><title type='text'>Chế độ dinh dưỡng cho người bệnh tăng huyết áp</title><content type='html'>&lt;p&gt;Ăn mặn là một trong những nguyên nhân làm tăng huyết áp. Mỗi người tập thói quen ăn giảm bớt muối từ bữa ăn hằng ngày. Bình thường chúng ta ăn 4.000 – 6.000mg natri tương đương với 15g muối. Đối với người tăng huyết áp, nên ăn ít hơn 6g muối mỗi ngày. Trong thực tế, lượng muối có trong nhiều thức ăn và đồ uống, chúng ta nên thực hiện các chế độ ăn giảm muối thích hợp.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Chế độ dinh dưỡng cho người bệnh tăng huyết áp&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Từ từ giảm lượng muối từ nguồn trên bàn ăn như nước mắm, xốt tương hột, muối tiêu, bột canh… hạn chế các thức ăn mặn như tương, chao, mắm các loại, dưa cà trứng muối, cá khô. Các thức ăn chế biến sẵn như cháo, mì ăn liền, giò chả. Bằng cách này có thể giảm 3 – 5g muối/ngày.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Trong nấu nướng không nên nêm muối, mắm, tương, bột canh, bột ngọt. Có thể luộc rau, thịt bỏ nước để loại bỏ muối. Tuy nhiên cách giảm này khó thực hiện và ngày nay các bệnh viện dùng thuốc lợi tiểu tăng huyết áp nên người bệnh không phải ăn lạt quá mức.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Người bị tăng huyết áp cần phải giảm dần hút thuốc lá và tiến tới bỏ hẳn hút thuốc lá. Hoạt động thể lực đều đặn như đi bộ nhanh ít nhất 30 phút/ngày. Nam giới nếu uống rượu thì uống ở mức độ vừa phải: uống 2 ly rượu nhỏ, 720ml bia, 90ml whisky 80 độ. Phụ nữ và người nhẹ cân uống một nửa lượng trên.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Chất béo làm tăng mỡ xấu trong cơ thể như mỡ, gan, tim, cật, óc của động vật. Chúng ta nên ăn các loại chất béo có lợi như các loại mỡ cá, đậu phộng, bắp, cải, mè và các sản phẩm bơ sữa ít béo.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Các loại rau , quả giúp hạ huyết áp như: Cần tây, cải cúc, rau muống, hành tây, nấm hương và nấm rơm, cà chua, cà tím, cà rốt, mộc nhĩ, tỏi, đậu Hà Lan và đậu xanh.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Sữa đậu nành: Là đồ uống lý tưởng cho người bị cao huyết áp, có công dụng phòng chống vữa xơ động mạch, điều chỉnh rối loạn lipid máu và giáng áp. Mỗi ngày, bạn nên dùng 1.000ml sữa đậu nành pha với 100g đường trắng, chia uống vài lần trong ngày.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Ngoài ra, việc ăn thêm lê, táo, chuối tiêu, dưa hấu, dưa chuột, nho, mã thầy, vừng, hạt sen, ngó sen, củ cải, đậu tương, cải xanh, bắp cải, dầu thực vật, trà tâm sen… và uống sữa đậu nành đều rất tốt cho những người bị cao huyết áp.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Người huyết áp cao nên hạn chế dùng một số thực phẩm như lòng đỏ trứng, não động vật, gan hê, thịt chim sẻ, thịt dê, thịt chó, thận lợn, mỡ động vật, rượu trắng, dưa hoặc cà muối mặn, thuốc lá, cà phê, trà đặc, hạt tiêu, ớt, gừng…&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Theo 24h.com.vn&lt;br /&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;-----------------------------------&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Giảng Đường Y Khoa&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;a href="http://giangduongykhoa.blogspot.com/"&gt;http://giangduongykhoa.blogspot.com&lt;/a&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;a href="http://giangduongykhoa.net/"&gt;http://giangduongykhoa.net&lt;/a&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;-----------------------------------&lt;/p&gt;&lt;div class="blogger-post-footer"&gt;Giảng Đường Y Khoa - Nơi Hội Tụ Kiến Thức Y Khoa&lt;img width='1' height='1' src='https://blogger.googleusercontent.com/tracker/8347068896071358659-5563601814829278335?l=giangduongykhoa.blogspot.com' alt='' /&gt;&lt;/div&gt;</content><link rel='replies' type='application/atom+xml' href='http://giangduongykhoa.blogspot.com/feeds/5563601814829278335/comments/default' title='Đăng Nhận xét'/><link rel='replies' type='text/html' href='http://giangduongykhoa.blogspot.com/2011/01/che-o-dinh-duong-cho-nguoi-benh-tang.html#comment-form' title='0 Nhận xét'/><link rel='edit' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/8347068896071358659/posts/default/5563601814829278335'/><link rel='self' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/8347068896071358659/posts/default/5563601814829278335'/><link rel='alternate' type='text/html' href='http://giangduongykhoa.blogspot.com/2011/01/che-o-dinh-duong-cho-nguoi-benh-tang.html' title='Chế độ dinh dưỡng cho người bệnh tăng huyết áp'/><author><name>Giảng Đường Y Khoa</name><uri>http://www.blogger.com/profile/01045762399869292181</uri><email>noreply@blogger.com</email><gd:image rel='http://schemas.google.com/g/2005#thumbnail' width='32' height='32' src='http://1.bp.blogspot.com/_iO0u_-8tJ8E/S95LXKfU_tI/AAAAAAAAAcY/p80KgeQ8pf0/S220/logo-1.png'/></author><thr:total>0</thr:total></entry><entry><id>tag:blogger.com,1999:blog-8347068896071358659.post-1387724883870924350</id><published>2011-01-21T08:46:00.001-08:00</published><updated>2011-01-21T08:46:48.420-08:00</updated><category scheme='http://www.blogger.com/atom/ns#' term='Y Học Phổ Thông'/><title type='text'>Bệnh tăng huyết áp ở người trẻ tuổi</title><content type='html'>&lt;p&gt;Tăng huyết áp ở người trẻ (dưới 35 tuổi) là dạng bệnh lý khá phổ biến hiện nay với tỉ lệ người mắc khoảng 5% – 12%. Tình trạng huyết áp tăng cao gây nhiều tác động xấu đến sức khỏe và hiệu quả công việc.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Phát hiện tình cờ&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Tăng huyết áp ở người trẻ có đến 70% là không có triệu chứng điển hình như nhức đầu, chóng mặt… và được phát hiện tình cờ trong đợt khám sức khỏe định kỳ hoặc bệnh nhân đến khám bệnh vì lý do khác.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Tăng huyết áp ở người trẻ thường bị cao số huyết áp dưới, ví dụ 120/95mmHg, trong khi tăng huyết áp ở người cao tuổi thường là tăng số huyết áp trên, ví dụ 170/80mmHg. Dấu hiệu không điển hình của tăng huyết áp ở người trẻ có thể gặp như khó kiềm chế cảm xúc, dễ nóng giận, dễ mất tập trung, dễ ảnh hưởng đến công việc, giao tiếp…&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Tăng huyết áp gây các biến chứng trên tim mạch, tai biến mạch máu não… Ngoài ra, ở người trẻ bị tăng huyết áp thì tỉ lệ rối loạn chức năng tình dục cao gấp 2,5 lần so với người không bị tăng huyết áp. Tỉ lệ này còn cao hơn khi người trẻ bị tăng huyết áp kèm theo các bệnh khác như đái tháo đường, bệnh lý thận mạn… Ngoài ra, người bệnh cũng dễ bị rối loạn cảm xúc theo chiều hướng dễ nóng giận, mất kiềm chế…&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Các yếu tố cản trở việc điều trị tăng huyết áp ở người trẻ xuất phát từ tâm lý không chấp nhận mình bị tăng huyết áp vì cảm thấy cơ thể khỏe mạnh bình thường, tâm lý che giấu bệnh vì sợ ảnh hưởng việc thăng tiến trong công việc.&lt;br /&gt;Nguyên nhân chủ yếu gây tăng huyết áp ở người trẻ&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Nguyên nhân gây tăng huyết áp ở người lớn tuổi có đến 95% trường hợp không có nguyên nhân, chỉ khoảng 5% có nguyên nhân. Tuy nhiên, ở người trẻ, tỉ lệ tăng huyết áp có nguyên nhân cao hơn so với người lớn tuổi. Các nguyên nhân có thể gặp là bệnh lý thận mạn tính, mất thăng bằng nội tiết tố, dùng nhiều rượu … Ngoài ra, các yếu tố góp phần làm tăng huyết áp là hút thuốc lá (kể cả hút thuốc lá thụ động), béo phì, stress, lối sống tĩnh tại, ăn quá mặn, uống nhiều rượu.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Để phòng ngừa tăng huyết áp ở người trẻ tuổi, cần thực hiện giảm cân nếu bị béo phì. Nên áp dụng chế độ ăn giảm cân: ít đường, ít mỡ, nhiều chất đạm và chất xơ. Ngoài ra, nên giảm bớt khẩu phần trong mỗi bữa ăn chứ không nên giảm bớt số bữa ăn hằng ngày. Không nên ăn quà bánh vặt, nên ăn nhạt. Chỉ nên ăn không quá 2 – 4g muối mỗi ngày. Lượng muối này bao gồm cả lượng muối có trong thức ăn và nước chấm. Nên ăn thức ăn có chứa nhiều các chất kali (có nhiều trong chuối, nước dừa, đậu trắng…), can-xi (có nhiều trong sữa, tôm, cua…), ma-giê (có nhiều trong thịt) để hoạt động của hệ tim mạch được ổn định.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Nên ăn chất đạm có nguồn gốc từ cá và thực vật hơn là các loại thịt heo, bò, gà…&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Không nên ăn quá ngọt ngay cả khi không bị đái tháo đường…, hạn chế ăn mỡ động vật. Nên ăn nhiều rau xanh, trái cây để cung cấp nhiều chất khoáng, vitamin và chất xơ. Hạn chế uống nhiều rượu. Nên rèn luyện thân thể, thường xuyên tập thể dục đều đặn mỗi ngày, mỗi lần khoảng 30 – 45 phút. Nên dùng các loại hình như dưỡng sinh, đi bộ, chạy bộ… và tuyệt đối không được gắng sức. Giữ nếp sinh hoạt điều độ, ổn định, tránh trạng thái xúc động, lo âu. Ngưng hút thuốc lá. Khi điều trị dùng thuốc, người bệnh nên tuân thủ lời dặn của bác sĩ, không nên tự ý ngừng thuốc.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;BS. Hạnh Trinh&lt;br /&gt;Theo sức khỏe đời sống&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br /&gt;-----------------------------------&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Giảng Đường Y Khoa&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;a href="http://giangduongykhoa.blogspot.com/"&gt;http://giangduongykhoa.blogspot.com&lt;/a&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;a href="http://giangduongykhoa.net/"&gt;http://giangduongykhoa.net&lt;/a&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;-----------------------------------&lt;/p&gt;&lt;div class="blogger-post-footer"&gt;Giảng Đường Y Khoa - Nơi Hội Tụ Kiến Thức Y Khoa&lt;img width='1' height='1' src='https://blogger.googleusercontent.com/tracker/8347068896071358659-1387724883870924350?l=giangduongykhoa.blogspot.com' alt='' /&gt;&lt;/div&gt;</content><link rel='replies' type='application/atom+xml' href='http://giangduongykhoa.blogspot.com/feeds/1387724883870924350/comments/default' title='Đăng Nhận xét'/><link rel='replies' type='text/html' href='http://giangduongykhoa.blogspot.com/2011/01/benh-tang-huyet-ap-o-nguoi-tre-tuoi.html#comment-form' title='0 Nhận xét'/><link rel='edit' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/8347068896071358659/posts/default/1387724883870924350'/><link rel='self' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/8347068896071358659/posts/default/1387724883870924350'/><link rel='alternate' type='text/html' href='http://giangduongykhoa.blogspot.com/2011/01/benh-tang-huyet-ap-o-nguoi-tre-tuoi.html' title='Bệnh tăng huyết áp ở người trẻ tuổi'/><author><name>Giảng Đường Y Khoa</name><uri>http://www.blogger.com/profile/01045762399869292181</uri><email>noreply@blogger.com</email><gd:image rel='http://schemas.google.com/g/2005#thumbnail' width='32' height='32' src='http://1.bp.blogspot.com/_iO0u_-8tJ8E/S95LXKfU_tI/AAAAAAAAAcY/p80KgeQ8pf0/S220/logo-1.png'/></author><thr:total>0</thr:total></entry><entry><id>tag:blogger.com,1999:blog-8347068896071358659.post-4482959913252678253</id><published>2011-01-21T08:44:00.000-08:00</published><updated>2011-01-21T08:45:32.718-08:00</updated><category scheme='http://www.blogger.com/atom/ns#' term='Y Học Cổ Truyền'/><title type='text'>Hoa hòe chữa bệnh tăng huyết áp</title><content type='html'>&lt;p&gt;Đông y gọi hoa hòe là hòe mễ, mễ là hạt gạo, ý nói vị thuốc từ hoa hòe, có kích thước chỉ bằng hạt gạo, nghĩa là còn ở dạng nụ hoa, mới được dùng làm thuốc. Do vậy, ta phải thu hái hoa hòe, ngay từ khi nó còn là nụ hoa, là như vậy. Sau khi thu hái hoa hòe, người ta tuốt lấy nụ hoa, nhặt bỏ các cành con và lá còn sót lại, rồi đem sao.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;strong&gt;Hoa hòe chữa bệnh tăng huyết áp&lt;/strong&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Theo YHCT, hoa hòe có vị đắng nhẹ. Tính hơi hàn. Quy kinh can, đại tràng, có công năng lương huyết, chỉ huyết, dùng trong các trường hợp huyết nhiệt, gây xuất huyết, như chảy máu cam, lỵ, trĩ ra máu, đại tiểu tiện ra máu. Phụ nữ băng kinh, băng huyết. Trên thực tế, hoa hòe có thể sử dụng dưới nhiều hình thưc khác nhau.&lt;br /&gt;Hoa hòe được dùng làm thuốc trong các trường hợp sau:&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;- Cầm máu, ngăn ngừa sự xơ vữa các động mạch… phòng và trị chứng tăng huyết áp, hoặc niêm mạc miệng, lưỡi bị lở loét: có thể dùng hoa hòe sao vàng, hãm uống. Ngày 4 – 6g.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;- Với trường hợp hay bị xuất huyết, chảy máu cam, xuất huyết dưới da, dùng hoa hòe sao đen (đem hoa hòe sao nhỏ lửa tới khi toàn bộ bên ngoài hoa có mầu đen, bên trong vẫn còn mầu vàng), hãm với nước sôi, uống ấm, ngày nhiều lần. Có thể phối hợp với một số vị thuốc cầm máu khác, như trắc bách diệp, lá sen, cỏ nhọ nồi,  huyết dụ, địa du, mỗi vị 6g (đều sao cháy), sắc uống, ngày một thang. Uống liền một vài tuần lễ.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Trong Đông y, thường dùng bài cổ phương hòe hoa tán gồm: hòe hoa 12g, trắc bách diệp 12g, kinh giới tuệ 12g, chỉ xác 12g. Phương thuốc này, cho hiệu quả tốt,  đối với các trường hợp xuất huyết: Trĩ huyết, đại tiểu tiện ra huyết, chảy máu cam…, hoặc vừa có ứ huyết vừa xuất huyết: Chấn thương, sưng đau, và chảy máu. Dùng dưới dạng thuốc bột, ngày uống 2-3 lần, mỗi lần 6-8 g với nước ấm.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Hoa hòe còn được dùng để làm thuốc xông hơi và ngâm rửa khi bị trĩ gây đau đớn: hoa hòe, chỉ xác, mỗi vị 20g, ngải cứu 40g, phèn chua 20g, cho vào nồi, thêm nước sạch, bịt kín nồi bằng lá chuối tươi, đun sôi 10 phút. Chọc một lỗ nhỏ, xông nhẹ vào nơi bị trĩ. Sau đó để nước ấm, rồi ngâm, rửa các búi trĩ, sẽ giảm được đau đớn và nhanh khỏi.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Ngoài hoa hòe ra, người ta còn dùng một số bộ phận khác của cây hòe, cũng dùng làm thuốc như quả hòe, còn gọi là hòe giác, có vị đắng, tính hàn. Quy kinh can, đại tràng; có công năng thanh can đởm, trừ phong, lương huyết, dùng sắc uống trong các trường hợp tỳ vị nhiệt, chảy nhiều dãi, trị mụn nhọt, phụ nữ bị nhọt vú, hoặc trị tăng huyết áp, trị di, mộng tinh. Hoặc lá hòe, dùng lá tươi, sắc đặc tắm khi bị ngứa, lở, dị ứng. Hoặc đem lá hòe, đồ chín, phơi khô, sắc uống hàng ngày, trị mắt bị mờ.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;GS.TS. Phạm Xuân Sinh&lt;br /&gt;Theo sức khỏe đời sống&lt;br /&gt;-----------------------------------&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Giảng Đường Y Khoa&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;a href="http://giangduongykhoa.blogspot.com/"&gt;http://giangduongykhoa.blogspot.com&lt;/a&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;a href="http://giangduongykhoa.net/"&gt;http://giangduongykhoa.net&lt;/a&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;-----------------------------------&lt;/p&gt;&lt;div class="blogger-post-footer"&gt;Giảng Đường Y Khoa - Nơi Hội Tụ Kiến Thức Y Khoa&lt;img width='1' height='1' src='https://blogger.googleusercontent.com/tracker/8347068896071358659-4482959913252678253?l=giangduongykhoa.blogspot.com' alt='' /&gt;&lt;/div&gt;</content><link rel='replies' type='application/atom+xml' href='http://giangduongykhoa.blogspot.com/feeds/4482959913252678253/comments/default' title='Đăng Nhận xét'/><link rel='replies' type='text/html' href='http://giangduongykhoa.blogspot.com/2011/01/hoa-hoe-chua-benh-tang-huyet-ap.html#comment-form' title='0 Nhận xét'/><link rel='edit' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/8347068896071358659/posts/default/4482959913252678253'/><link rel='self' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/8347068896071358659/posts/default/4482959913252678253'/><link rel='alternate' type='text/html' href='http://giangduongykhoa.blogspot.com/2011/01/hoa-hoe-chua-benh-tang-huyet-ap.html' title='Hoa hòe chữa bệnh tăng huyết áp'/><author><name>Giảng Đường Y Khoa</name><uri>http://www.blogger.com/profile/01045762399869292181</uri><email>noreply@blogger.com</email><gd:image rel='http://schemas.google.com/g/2005#thumbnail' width='32' height='32' src='http://1.bp.blogspot.com/_iO0u_-8tJ8E/S95LXKfU_tI/AAAAAAAAAcY/p80KgeQ8pf0/S220/logo-1.png'/></author><thr:total>0</thr:total></entry><entry><id>tag:blogger.com,1999:blog-8347068896071358659.post-5075497770846950683</id><published>2010-12-26T05:39:00.000-08:00</published><updated>2010-12-26T05:39:00.127-08:00</updated><category scheme='http://www.blogger.com/atom/ns#' term='Nội Khoa - tim mạch'/><title type='text'>Siêu âm tim thai trong chẩn đoán bệnh tim bẩm sinh trước sinh</title><content type='html'>&lt;p&gt;&lt;/p&gt;&lt;p style="text-align: right;"&gt;Th.S. BS    Lê Kim Tuyến&lt;/p&gt; &lt;p style="text-align: right;"&gt;PGS. TS.   Phạm Nguyễn Vinh&lt;/p&gt; &lt;p style="text-align: justify;"&gt;&lt;span style="color: rgb(0, 0, 0);"&gt;&lt;strong&gt;TÓM  TẮT&lt;/strong&gt;&lt;/span&gt;&lt;/p&gt; &lt;p style="text-align: justify;"&gt;Với sự  tiến bộ của  siêu âm doppler,  việc chẩn đóan bệnh tim bẩm sinh trước  sinh ngày càng  phát triển. Chẩn  đoán trước sinh giúp chúng ta không  “bất ngờ” khi chăm  sóc trẻ sau  sanh, giúp điều trị trong bào thai hoặc  đình chỉ thai sản.  Các chỉ  định chính của siêu âm tim thai bao gồm:  tiền căn gia đình mắc  bệnh  tim bẩm sinh, bản thân người mẹ có nguy cơ  cao mang thai mắc bệnh  tim  bẩm sinh và những dấu hiệu thai nhi mắc bệnh  tim cao. BS sản khoa  đóng  vai trò quan trọng như tuyến đầu sàng lọc,  phát hiện những dấu hiệu   “nghi ngờ”, để gửi đến BS tim mạch.&lt;/p&gt; &lt;p style="text-align: justify;"&gt;Với  sự tiến bộ của siêu âm doppler,  siêu âm tim đã là 1 phương tiện chẩn  đóan không xâm nhập và đáng tin  cậy trong bệnh tim bẩm sinh (BTBS) và  rối lọan chức năng tim mạch. Ngày  nay siêu âm doppler mở rộng sang lĩnh  vực thai nhi. Tỷ lệ BTBS là  8/1000 trẻ sinh-sống[1-3] , như vậy ở VN mỗi  năm trung bình có khỏang  8000 trẻ mắc bệnh tim được sinh ra, trong đó ¼  bệnh tim (2000 trường  hợp) là phức tạp do cấu trúc giải phẫu hoặc phối  hợp với những dị tật  khác (các cơ quan nội tạng hoặc NST).&lt;/p&gt; &lt;p style="text-align: justify;"&gt;&lt;span style="color: rgb(0, 0, 0);"&gt;&lt;strong&gt;1. VAI TRÒ CHẨN ĐOÁN TRƯỚC SANH  BTBS&lt;/strong&gt;&lt;/span&gt;&lt;/p&gt; &lt;p style="text-align: justify;"&gt;Siêu âm tim thai vào  khoảng tháng 4,5  của thai kỳ giúp chúng ta tránh bất ngờ, chuẩn bị cho  sản phụ được sanh  ở tuyến trên (có đủ phương tiện như prostaglandines  E1,máy thở,  Rashkind, thông tim can thiệp), có sự phối hợp của nhiều  chuyên khoa.&lt;/p&gt; &lt;p style="text-align: justify;"&gt;Ngoài ra, chẩn đoán sớm  như vậy có thể  giúp điều trị bệnh tim ở giai đoạn bào thai hoặc đình chỉ  thai sản nếu  tổn thương tim quá phức tạp và nặng.&lt;/p&gt; &lt;p style="text-align: justify;"&gt;&lt;span style="color: rgb(0, 0, 0);"&gt;&lt;strong&gt;2. CẤP ĐỘ CHẨN ĐOÁN:&lt;/strong&gt;&lt;/span&gt;&lt;/p&gt; &lt;p style="text-align: justify;"&gt;Có hai cấp độ chẩn đoán bệnh lý tim thai&lt;/p&gt; &lt;div style="text-align: justify;"&gt; &lt;ul&gt;&lt;li&gt;Cấp độ một: siêu âm tim thai (SATT) được tiến hành ở tháng thứ 4   hoặc 5 của thai kỳ, xem 4 buồng tim, sự xuất phát của đại động mạch, nếu   có bất thường hoặc nghi ngờ thì chuyển lên tuyến trên&lt;/li&gt;&lt;li&gt;Cấp độ hai: thường do BS tim mạch nhi đã được đào tạo về  SATT  tiến  hành, có nhiệm vụ chẩn đóan, tiên lựơng và lập kế họach trước sanh 1   cách cụ thể.&lt;/li&gt;&lt;/ul&gt; &lt;/div&gt; &lt;p style="text-align: justify;"&gt;&lt;span style="color: rgb(0, 0, 0);"&gt;&lt;strong&gt;3. CHỈ ĐỊNH SIÊU ÂM TIM THAI:&lt;/strong&gt;&lt;/span&gt;&lt;/p&gt; &lt;p style="text-align: justify;"&gt;&lt;strong&gt;a. Có tiền căn gia đình mà làm tăng  nguy cơ bệnh tim thai:&lt;/strong&gt;&lt;/p&gt; &lt;ul&gt;&lt;li&gt;Có con hoặc lần mang thai trước bị bệnh tim                          &lt;ul&gt;&lt;li&gt; &lt;div style="text-align: justify;"&gt;Trong bệnh “tắc nghẽn của tim trái”  như hẹp eo động mạch chủ  (ĐMC), bất thường van ĐMC..., sự tái diễn và  mức độ nặng đa dạng trong 1  gia đình. Ví dụ gia đình có tiền căn lọan  sản van ĐMC đơn giản có thể  dẫn đến 1 sự tái diễn của thiểu sản thất  trái nặng.&lt;/div&gt; &lt;/li&gt;&lt;li&gt; &lt;div style="text-align: justify;"&gt;Trong bệnh tim vùng nón-thân động mạch  (conotroncale), nhóm này  cũng rất đa dạng: tứ chứng Fallot, thiểu sản  van động mạch phổi (ĐMP),  thông liên thất (TLT), thân chung động mạch,  đứt đọan ĐMC. Trong nhóm  bệnh này cần tiến hành lập bản đồ gene, tìm  bất thường ở NST 22q11.&lt;/div&gt; &lt;/li&gt;&lt;li&gt; &lt;div style="text-align: justify;"&gt;Bệnh cơ tim và những bệnh tim khác:  khiếm khuyết “vách”, hồi lưu  tĩnh mạch phổi bất thường (RVPA), đồng  dạng nhĩ (isomerisme). Ngày nay  với sự tiến bộ của ngành sinh học phân  tử và nhờ vào nghiên cứu có hệ  thống của những gia đình tự nguyện, 1  vài gene đã được phát hiện và công  bố (carnitine-OCTN2 đối với bệnh cơ  tim dãn nở, NDUFV1 đối với bệnh cơ  tim phì đại, NDUFS4...)&lt;/div&gt; &lt;/li&gt;&lt;/ul&gt; &lt;/li&gt;&lt;li&gt;Bố bị BTBS: con có khả năng bị BTBS là 3%&lt;/li&gt;&lt;li&gt;Tiền căn bất thường gene: Các hội chứng Noonan, Marfan, Holt-Oram,  Di-George, William.&lt;/li&gt;&lt;/ul&gt; &lt;p style="text-align: justify;"&gt;&lt;strong&gt;b. Người mẹ có nguy cơ cao mang thai  mắc BTBS:&lt;/strong&gt;&lt;/p&gt; &lt;div style="text-align: justify;"&gt; &lt;ul&gt;&lt;li&gt;Rối loạn chuyển hóa ở người mẹ: tiểu đường phụ thuộc insuline, đặc   biệt là những người mẹ có đường huyết chưa được kiểm sóat tốt; tiểu   phenyl-ceton (phenylketonuria)[4-6].&lt;/li&gt;&lt;li&gt;Người mẹ tiếp xúc với chất gây dị dạng hệ tim mạch: rượu, thuốc   chống động kinh,  lithium (Ebstein), bị nhiễm Rubella trước 12   tuần[7-8].&lt;/li&gt;&lt;li&gt;Người mẹ có tự kháng thể ( bệnh tự miễn ): anti-SSA, anti-SSB  (bệnh cơ tim dãn nở, blốc nhĩ thất)[9].&lt;/li&gt;&lt;li&gt;Người mẹ bị bệnh tim: tăng tử vong do tăng áp ĐMP, hẹp ĐMC nặng.&lt;/li&gt;&lt;/ul&gt; &lt;/div&gt; &lt;p style="text-align: justify;"&gt;&lt;strong&gt;c. Những dấu hiệu thai nhi có bệnh  tim mạch cao:&lt;/strong&gt;&lt;/p&gt; &lt;div style="text-align: justify;"&gt; &lt;ul&gt;&lt;li&gt;Tiến triển của phù thai nhi: 25% có bệnh tim[12]&lt;/li&gt;&lt;li&gt;Phát hiện những dị tật ngòai tim, bao gồm bất thường NST[10-11] :   thóat vị rốn (30%), thoát vị hoành (10%), teo hành tá tràng, phù gáy, ĐM   rốn đơn độc, dò thực quản-khí quản, nang dịch...&lt;/li&gt;&lt;li&gt;Phát hiện rối lọan nhịp: nhịp nhanh (không lỗ van 3 lá, bệnh cơ   tim, bất tương hợp 2 lần), bloc nhĩ thất (bất tương hợp 2 lần, kênh nhĩ   thất, tự miễn)&lt;/li&gt;&lt;li&gt;Nghi ngờ BTBS do BS sản khoa phát hiện khi siêu âm “thường qui”&lt;/li&gt;&lt;li&gt;Điều cần lưu ý ở nhóm “nguy cơ cao” chỉ phát hiện được 25% BTBS, 1   số lớn còn lại là trong nhóm “không có nguy cơ” hoặc không có tiền sử   trước đó. Vì vậy chỉ có khám 1 cách có hệ thống tim thai là cho độ nhạy   chẩn đóan cao: 75%-90% của BTBS[18-21].&lt;/li&gt;&lt;/ul&gt; &lt;/div&gt; &lt;p style="text-align: justify;"&gt;&lt;span style="color: rgb(0, 0, 0);"&gt;&lt;strong&gt;4. CÁC DẤU HIỆU TRÊN SIÊU ÂM[13] :&lt;/strong&gt;&lt;/span&gt;&lt;/p&gt; &lt;p style="text-align: justify;"&gt;Việc xác định 4 buồng tim là bắt buộc   trong SATT, xác định vòng van 2 lá, 3 lá, khỏang cách giữa van 2 lá- 3   lá... . Điều quan trọng là kiểm tra sự “cân đối” giữa các buồng tim ở   tuần thứ 22 của thai kỳ, hơi mất cân đối ở tuần thứ 32 (tim phải lớn hơn   tim trái về mặt sinh lý: TP/TT dưới 1,4).&lt;/p&gt; &lt;p style="text-align: justify;"&gt;SATT được khuyên nên tiến hành vào tuần  lễ thứ 20-22 của thai  kỳ. SATT cho thấy cấu trúc tim thai bình thường  không có nghĩa là trái  tim sẽ bình thường ở 3 tháng cuối thai kỳ hay  sau sanh. Ví dụ như những  trường hợp khiếm khuyết vách đơn thuần, những  bất thường có diễn tiến  (hẹp eo ĐMC), những dị tật “nhỏ” hoặc do tư  thế thai nhi không thụân lợi  cho việc chẩn đóan.&lt;/p&gt; &lt;p style="text-align: justify;"&gt;Sau đây là những  mô tả giải phẫu học trên siêu âm:&lt;/p&gt; &lt;p style="text-align: justify;"&gt;&lt;strong&gt;a.Bất thường nhận ra ở mặt cắt 4 buồng:&lt;/strong&gt;&lt;/p&gt; &lt;ul&gt;&lt;li&gt;Vị trí tim thai bất thường: tim bên phải có thể là situs solitus, inversus, hoặc ambigus&lt;/li&gt;&lt;li&gt;Van nhĩ thất không nhìn thấy và thất đi theo bị thiểu sản              &lt;ul&gt;&lt;li&gt;Không thấy van 2 lá có thể chẩn đóan thiểu sản thất trái hoặc không lỗ van 2 lá (hình 1).&lt;/li&gt;&lt;li&gt;Không thấy van 3 lá có thể chẩn đóan thiểu sản thất phải hoặc không lỗ van 3 lá (hình 2).&lt;/li&gt;&lt;/ul&gt; &lt;/li&gt;&lt;/ul&gt; &lt;div style="text-align: center;"&gt;&lt;img alt="sieu-am-tim-thai-h1" src="http://timmachhoc.vn/images/stories/tongquantimmach/sieu-am-tim-thai-h1.jpg" width="444" height="300" /&gt;&lt;/div&gt; &lt;div style="text-align: center;"&gt;Hình 1: Thiểu sản thất trái&lt;/div&gt; &lt;div style="text-align: center;"&gt;&lt;img alt="sieu-am-tim-thai-h2" src="http://timmachhoc.vn/images/stories/tongquantimmach/sieu-am-tim-thai-h2.jpg" width="444" height="300" /&gt;&lt;/div&gt; &lt;div style="text-align: center;"&gt;Hình 2: Không lỗ van 3 lá kèm TLT&lt;/div&gt; &lt;div style="text-align: justify;"&gt; &lt;ul&gt;&lt;li&gt;Nhìn thấy van nhĩ –thất nhưng bất thường về chức năng, vị trí, cử  động: Ebstein, loạn sản van 3 lá, loạn sản van 2 lá. Tâm thất tương ứng  có hình dạng đa dạng. Dấu hiệu giãn nhĩ phải hoặc nhĩ trái, là dấu hiệu  gợi ý của mức độ hở van.&lt;/li&gt;&lt;/ul&gt;  &lt;/div&gt; &lt;ul&gt;&lt;li&gt; &lt;div style="text-align: justify;"&gt;Một van nhĩ thất chung: thì tâm trương  mở ra cả 2 thất (khiếm khuyết vách nhĩ thất) cho chẩn đóan kênh nhĩ  thất (hình 3). (có thể có 1 thất lớn hơn, kích thước lỗ thông rất đa  dạng).&lt;/div&gt; &lt;/li&gt;&lt;/ul&gt; &lt;div style="text-align: center;"&gt;&lt;img alt="sieu-am-tim-thai-h3" src="http://timmachhoc.vn/images/stories/tongquantimmach/sieu-am-tim-thai-h3.jpg" width="444" height="300" /&gt;&lt;/div&gt; &lt;div style="text-align: center;"&gt;Hình 3: Kênh nhĩ thất tòan phần, 4 buồng thì tâm trương&lt;/div&gt; &lt;ul&gt;&lt;li&gt; &lt;div style="text-align: justify;"&gt;Bất thường “vách”&lt;/div&gt; &lt;ul&gt;&lt;li&gt; &lt;div style="text-align: justify;"&gt;Không thấy tòan bộ vách liên thất:  đồng nghĩa “tâm thất độc nhất”. Sự kết nối nhĩ thất cũng rất đa dạng, có  thể có 2 van nhĩ -thất hiện diện hoặc chỉ có 1 van nhĩ thất. Khi lỗ  thông lớn (trên 2/3 chiều dài vách) xem như tâm thất độc nhất, mặc dù các  dị tật này không cùng 1 nhóm “phôi thai học”. (hình 4)&lt;/div&gt; &lt;/li&gt;&lt;/ul&gt; &lt;/li&gt;&lt;/ul&gt; &lt;div style="text-align: center;"&gt;&lt;img alt="sieu-am-tim-thai-h4" src="http://timmachhoc.vn/images/stories/tongquantimmach/sieu-am-tim-thai-h4.jpg" width="444" height="300" /&gt;&lt;/div&gt; &lt;div style="text-align: center;"&gt;Hình 4: Tâm thất độc nhất với 2 bộ máy van nhĩ-thất (dạng TLT lớn).&lt;/div&gt; &lt;ul&gt;&lt;li&gt; &lt;div style="text-align: justify;"&gt;Khiếm khuyết vách liên thất (VLT):  kích thước rất đa dạng, nhưng dưới 2/3 chiều dài của VLT gọi là thông  liên thất. Cần phân tích van nhĩ-thất để xem TLT này là bất thường đơn  độc hay phối hợp trong bệnh tim phức tạp (không lỗ hay bất thường van 2  lá, không lỗ hay bất thường van 3 lá)&lt;/div&gt; &lt;/li&gt;&lt;li&gt; &lt;div style="text-align: justify;"&gt;Không thấy “tòan bộ vách liên nhĩ”:  tâm nhĩ độc nhất, thường gặp trong nhóm bệnh gọi là “đồng dạng”  (isomerisme): thường là đồng dạng trái trong tâm nhĩ độc nhất đơn thuần;  thường là đồng dạng phải nếu là kênh nhĩ thất “phức tạp”.&lt;/div&gt; &lt;/li&gt;&lt;li&gt; &lt;div style="text-align: justify;"&gt;Khiếm khuyết vách nhĩ-thất: kích thước  rất đa dạng, thường ở phấn thấp của vách liên nhĩ ngay chỗ kết nối của  van nhĩ-thất, và VLT phía sau (phần nhận), cho chẩn đóan kênh nhĩ-thất.&lt;/div&gt; &lt;/li&gt;&lt;li&gt; &lt;div style="text-align: justify;"&gt;Khiếm khuyết vách liên nhĩ: rất khó chẩn đóan ở những trường hợp TLN lỗ thứ phát&lt;/div&gt; &lt;/li&gt;&lt;li&gt; &lt;div style="text-align: justify;"&gt;Ở phần thấp: thông liên nhĩ lỗ tiên phát, dạng kênh nhĩ thất bán phần.&lt;/div&gt; &lt;/li&gt;&lt;li&gt; &lt;div style="text-align: justify;"&gt;Bất thường về chức năng:&lt;/div&gt; &lt;ul&gt;&lt;li&gt; &lt;div style="text-align: justify;"&gt;Mất cân đối giữa 2 thất hoặc 2 nhĩ: nó  không phải là bệnh lý trong 3 tháng cuối thai kỳ nếu chỉ là đơn độc  trong ưu thế tim phải. Ngược lại, mất cân đối 1 cách có ý nghĩa  (trên 2/1) là một dấu hiệu gợi ý (hẹp eo ĐMC hoặc bất thường nối liền  tĩnh mạch) (hình 5)&lt;/div&gt; &lt;/li&gt;&lt;li&gt; &lt;div style="text-align: justify;"&gt;Phì đại vách hoặc tòan bộ cơ tim: cho  chẩn đóan bệnh cơ tim phì đại trong bối cảnh 1 hội chứng do bất thường  gene hay bệnh tim tắc nghẽn có tiền căn gia đình.&lt;/div&gt; &lt;/li&gt;&lt;li&gt; &lt;div style="text-align: justify;"&gt;Giãn thất phải hoặc trái: cho chẩn  đóan bệnh cơ tim không tắc nghẽn hoặc hậu quả không đặc hiệu của 1 bệnh  lý tắc nghẽn hoặc quá tải thể tích&lt;/div&gt; &lt;/li&gt;&lt;/ul&gt; &lt;/li&gt;&lt;/ul&gt; &lt;div style="text-align: center;"&gt;&lt;img alt="sieu-am-tim-thai-h5" src="http://timmachhoc.vn/images/stories/tongquantimmach/sieu-am-tim-thai-h5.jpg" width="444" height="300" /&gt;&lt;/div&gt; &lt;div style="text-align: center;"&gt;Hình 5: hình ảnh mất cân đối thất trái/thất phải ở tuần 23 thai kỳ, trẻ bị hẹp eo ĐMC sau sanh.&lt;/div&gt; &lt;ul&gt;&lt;li&gt;Các hình ảnh bất thường khác:          &lt;ul&gt;&lt;li&gt; &lt;div style="text-align: justify;"&gt;Hình ảnh khối u: thường gặp là  Rhabdomyome, nếu là có nhiều, cần phải tìm sclérose tubéreuse. 1 khối u  duy nhất- fibrome. Teratome thừờng ở cuống động mạch trong màng tim và  kèm theo tràn dịch màng ngòai tim. (hình 6)&lt;/div&gt; &lt;/li&gt;&lt;li&gt; &lt;div style="text-align: justify;"&gt;Hình ảnh sáng ở trụ cơ: của van 2 lá hoặc 3 lá, nó không đặc hiệu khi đơn độc.&lt;/div&gt; &lt;/li&gt;&lt;/ul&gt; &lt;/li&gt;&lt;/ul&gt; &lt;div style="text-align: center;"&gt;&lt;img alt="sieu-am-tim-thai-h6" src="http://timmachhoc.vn/images/stories/tongquantimmach/sieu-am-tim-thai-h6.jpg" width="444" height="300" /&gt;&lt;/div&gt; &lt;div style="text-align: center;"&gt;Hình 6: Bướu tim trong thất trái, có chẩn đóan sau sinh là Rhabdomyomes.&lt;/div&gt; &lt;p style="text-align: justify;"&gt;&lt;strong&gt;b.Hình ảnh bất thường mạch máu ngoài tim:&lt;/strong&gt;&lt;/p&gt; &lt;ul&gt;&lt;li&gt; &lt;div style="text-align: justify;"&gt;Mạch máu phía sau “thêm vào”  (supplémentaire): chen vào giữa ĐMC xuống và nhĩ, cho chẩn đóan “ống thu  thập” (collecteur) mạch máu sau tim, nhận 4 tĩnh mạch phổi mà không kết  nối với nhĩ trái. Hình ảnh này không phải lúc nào cũng thấy dễ dàng,  nhưng nếu thấy gợi ý chẩn đoán nối liền tĩnh mạch phổi bất thường tòan  phần. (hình 7)&lt;/div&gt; &lt;/li&gt;&lt;/ul&gt; &lt;p style="text-align: center;"&gt;&lt;img alt="sieu-am-tim-thai-h7" src="http://timmachhoc.vn/images/stories/tongquantimmach/sieu-am-tim-thai-h7.jpg" width="444" height="300" /&gt;&lt;/p&gt; &lt;div style="text-align: center;"&gt;Hình 7: Nối liền tĩnh mạch phổi bất thường, hình ảnh ống thu thập nằm giữa nhĩ trái và ĐMC.&lt;/div&gt; &lt;ul&gt;&lt;li&gt; &lt;div style="text-align: justify;"&gt;Giãn tĩnh mạch chủ trên: thường gợi ý nối liền tĩnh mạch phổi bất thường thể trên tim.&lt;/div&gt; &lt;/li&gt;&lt;li&gt; &lt;div style="text-align: justify;"&gt;Bất thường tĩnh mạch hệ thống: Tĩnh  mạch chủ trên trái đổ vào xoang vành, hồi lưu tĩnh mạch chủ dưới qua  “azygos”, bất thường ống tĩnh mạch (ductus venosus)...&lt;/div&gt; &lt;/li&gt;&lt;/ul&gt; &lt;strong&gt;c.Bất thường ở đại động mạch[14] :&lt;/strong&gt;  &lt;ul&gt;&lt;li&gt; &lt;div style="text-align: justify;"&gt;Khi siêu âm phải thấy rõ 2 đại động  mạch, 2 vòng van tổ chim, sự phân nhánh của ĐMP và cung ĐMC để nhận ra 2  động mạch này. Hướng của 2 động mạch này bắt chéo nhau, chứng tỏ có  tương hợp thất-đại động mạch.&lt;/div&gt; &lt;/li&gt;&lt;/ul&gt; &lt;div style="text-align: center;"&gt;&lt;img alt="sieu-am-tim-thai-h8" src="http://timmachhoc.vn/images/stories/tongquantimmach/sieu-am-tim-thai-h8.jpg" width="444" height="300" /&gt;&lt;/div&gt; &lt;div style="text-align: center;"&gt;Hình 8: Chuyển vị đại động mạch với hình ảnh 2 động mạch song song&lt;/div&gt;  &lt;strong&gt;d.Bệnh lý tắc nghẽn với vách liên thất nguyên vẹn:&lt;/strong&gt;  &lt;ul&gt;&lt;li&gt; &lt;div style="text-align: justify;"&gt;Hẹp van ĐMC hoặc ĐMP: chẩn đóan siêu  âm là chắc chắn, có khi cũng nghi ngờ khi quan sát cử động, “độ cứng”  của van ĐMC va ĐMP. Chẩn đóan được gợi ý khí có biến chứng trên thất  tương ứng: phì đại với chức năng bảo tồn, giãn và giảm co bóp thất hoặc  giãn nhĩ.&lt;/div&gt; &lt;/li&gt;&lt;li&gt; &lt;div style="text-align: justify;"&gt;Hẹp động mạch ở xa: phân biệt hẹp eo ĐMC hoặc hẹp ống động mạch.&lt;/div&gt; &lt;ul&gt;&lt;li&gt; &lt;div style="text-align: justify;"&gt;Hẹp eo ĐMC: hình ảnh rõ ràng nhất là  eo ĐMC có kích thước nhỏ hơn 2 độ lệch chuẩn so với trị số trung bình  của tuổi thai. Dấu hiệu gợi ý là mất cân đối giữa tim phải va trái  (trên 2/1), mặc dù là dấu hiệu này kém đặc hiệu ở 3 tháng cuối.&lt;/div&gt; &lt;/li&gt;&lt;li&gt; &lt;div style="text-align: justify;"&gt;Hẹp ống động mạch: đó là 1 bất thường  về chức năng, gặp trong trường hợp người mẹ dùng thuốc giảm đau-kháng  viêm, đặc biệt là Indomethacine&lt;/div&gt; &lt;/li&gt;&lt;li&gt; &lt;div style="text-align: justify;"&gt;Những bất thường này phụ thuộc vào  điều kiện tuần hòan và nó diễn tiến theo thời gian, xảy ra thường trễ  trong quá trình mang thai, có khi tạo ra sau sanh.&lt;/div&gt; &lt;/li&gt;&lt;/ul&gt; &lt;/li&gt;&lt;/ul&gt; &lt;p&gt;&lt;strong&gt;e.Bệnh nón-thân (conotroncale)[15] :&lt;/strong&gt;&lt;/p&gt; Bệnh này chiếm đa số trong bệnh lý tắc nghẽn kèm thông liên thất. Nhóm  bệnh này rất đa dạng: tứ chứng Fallot, không lỗ van ĐMP kèm TLT, thiểu  sản van ĐMP, thân chung động mạch, đứt đọan ĐMC, hội chứng hẹp eo ĐMC và  bất thường ở cung ĐMC.&lt;br /&gt;Những bệnh tim này thường có sự tương hợp  thất-đại động mạch, sự bất tương hợp thất-đại động mạch cho hình ảnh các  đại động mạch song song trên siêu âm. Trong trường hợp không lỗ van  ĐMP, sự bất tương hợp thất-đại động mạch được xác định bằng vị trí bất  thường của ĐMC trên phần phễu tim phải:              &lt;ul&gt;&lt;li&gt; &lt;div style="text-align: justify;"&gt;Chuyển vị đại động mạch đơn thuần: khi chỉ thấy bất tương hợp thất-đại động mạch.&lt;/div&gt; &lt;/li&gt;&lt;li&gt; &lt;div style="text-align: justify;"&gt;Chuyển vị đại động mạch kết hợp với  bất thường giải phẫu khác: khiếm khuyết vách, bất thường van nhĩ-thất  hoặc van tổ chim, bất thường đại động mạch (hẹp chủ, teo hoặc giảm sản  ĐMP).&lt;/div&gt; &lt;/li&gt;&lt;li&gt; &lt;div style="text-align: justify;"&gt;Vị trí đại động mạch bất thường kèm TLT, chúng khác với chẩn đóan trên là mất sự liên tục thất-đại động mạch.&lt;/div&gt; &lt;/li&gt;&lt;li&gt; &lt;div style="text-align: justify;"&gt;Bất tương hợp 2 lần (chuyển vị đại  động mạch có sữa chữa): có thể kết hợp với tất cả các dạng của bệnh van  tim, tâm thất hay đại động mạch. (hình 9)&lt;/div&gt; &lt;/li&gt;&lt;/ul&gt; &lt;div style="text-align: center;"&gt;&lt;img alt="sieu-am-tim-thai-h9" src="http://timmachhoc.vn/images/stories/tongquantimmach/sieu-am-tim-thai-h9.jpg" width="444" height="300" /&gt;&lt;/div&gt; &lt;div style="text-align: center;"&gt;Hình 9 : bất tương hợp 2 lần kèm TLT&lt;/div&gt;  &lt;p style="text-align: justify;"&gt;&lt;span style="color: rgb(0, 0, 0);"&gt;&lt;strong&gt;5. NHỮNG NGUYÊN LÝ CƠ BẢN CẤP CỨU NỘI VÀ NGOẠI KHOA CHU SINH[16,18,21,22] :&lt;/strong&gt;&lt;/span&gt;&lt;/p&gt; &lt;p style="text-align: justify;"&gt;Gần 15 năm qua, trên thế giới việc chăm  sóc cấp cứu tim mạch sơ sinh đã có những bước tiến bộ tột bật: trước  tiên là nhờ việc sử dụng Prostaglandine E1 trong những bệnh tim sống phụ  thuộc vào ống động mạch (ductodépendantes-ÔĐM); sự tiến bộ của thông  tim can thiệp và cuối cùng là việc chẩn đóan BTBS trước sinh, đã cho  phép chúng ta chăm sóc trẻ chu sinh 1 cách thích hợp.&lt;/p&gt; &lt;div style="text-align: justify;"&gt; &lt;ul&gt;&lt;li&gt;BTBS tím sơ sinh nặng do giảm cung lượng phổi: không lỗ van ĐMP kèm  TLT, 1 vài thể của bệnh tứ chứng Fallot, hẹp van ĐMP “nguy kịch”  (critique) và không lỗ van ĐMP với VLT nguyên vẹn, BTBS phức tạp kèm  không lỗ van ĐMP hoặc hẹp van ĐMP rất nặng. Trong những tình huống này,  tuần hòan phổi được cung cấp bởi ÔĐM. Nếu ÔĐM đóng lại sau sanh, trẻ sẽ  tím dữ dội, giảm oxygène trong máu  và nhiễm toan chuyển hóa, nhanh  chóng dẫn tới tử vong khi trẻ không được điều trị kịp thời.&lt;/li&gt;&lt;li&gt;Tắc nghẽn tim trái nặng: hẹp van ĐMC “nguy kịch”, hẹp eo ĐMC đơn  thuần hoặc kết hợp với những bất thường trong tim, đứt đọan ĐMC và các  dạng khác nhau của thiểu sản thất trái. Trong những tình huống này, sự  thông thương của ÔĐM là “bắt buộc” để bảo đảm cung lượng “hệ thống”.&lt;/li&gt;&lt;li&gt;Chuyển vị đại động mạch đơn thuần (không kèm TLT): sau sinh, khi  không có luồng thông ở tầng nhĩ hoặc ÔĐM, thất phải tống 1 lượng máu kém  oxy về phía ĐMC và thất trái tống máu chứa nhiều oxy về ĐMP. Tuần hòan  này không thể đảm bảo để duy trì sự sống, do đó bắt buộc phải đảm bảo sự  thông thương ở tầng nhĩ và tầng động mạch, có nghĩa chúng ta phải chăm  sóc trẻ ở nơi có khoa sơ sinh và khoa tim mạch nhi và nếu có thể là khoa  phẫu thuật tim sơ sinh. Gần đây bệnh viện Necker (Paris) đã chứng minh  rằng chẩn đóan trứơc sinh của chuyển vị đại động mạch đơn thuần có tiên  lượng cải thiện rõ rệt[14].&lt;/li&gt;&lt;li&gt;Nối liền tĩnh mạch phổi toàn phần cũng là 1 cấp cứu sơ sinh (khi có  tắc nghẽn), nhưng chẩn đóan trước sinh rất khó vì cấu trúc trong tim  bình thường. Các dấu hiệu gợi ý: thấy được ống thu thập tĩnh mạch ở sau  tim, giãn tim phải. Khi thấy các dấu hiệu này, thai phụ cần được gửi đến  BS chuyên khoa tim mạch nhi để có chẩn đóan xác định trứớc sinh bằng  cách phân tích chính xác hồi lưu tĩnh mạch phổi bằng doppler màu.&lt;/li&gt;&lt;/ul&gt; &lt;/div&gt; &lt;p style="text-align: justify;"&gt;Việc chẩn đóan trứơc sinh BTBS cho phép chúng ta lựa chọn nơi phù hợp để người mẹ sanh con:&lt;/p&gt; &lt;div style="text-align: justify;"&gt; &lt;ul&gt;&lt;li&gt;Trẻ bị chuyển vị đại động mạch đơn thuần bắt buộc sinh trong bệnh  viện có khoa sản, khoa sơ sinh và khoa can thiệp tim mạch nhi, ở nơi mà  có thể làm thủ thuật mở rộng VLN (Rashkind) trong khi chờ đợi phẫu  thuật.&lt;/li&gt;&lt;li&gt;Trẻ có bệnh tim khác mà cần cấp cứu sau sanh phải được sanh ở nơi có  khoa cấp cứu sơ sinh và sự hiện diện của BS tim mạch nhi. Trong phòng  sanh phải có Prostaglandine E1 để giữ ÔĐM thông thương.&lt;/li&gt;&lt;li&gt;Nếu bệnh tim không cần cấp cứu, chúng ta cần khuyên cho trẻ khám  chuyên khoa tim mạch nhi sơ sinh để cho phép lọai trừ những trường hợp  cấp cứu, giải thích cho bố mẹ cách theo dõi và phương thức điều trị.&lt;/li&gt;&lt;li&gt;Vấn đề lọan nhịp thai nhi sẽ được đề cập trong 1 bài khác. Phát hiện  nhịp nhanh trên thất cần điều trị trong quá trình mang thai thường là  cho  người mẹ uống thuốc. Tùy theo tình trạng lâm sàng thai nhi dưới  điều trị, chúng ta có thể khuyên bằng những phương thức sanh cụ thể:  trong 1 trung tâm “chuyên khoa” mà rối lọan nhịp nguy hiểm, thường là  sinh bằng đường dưới, mổ lấy thai khi Bloc nhĩ thất với nhịp thất rất  chậm (dưới 45-50l/p).&lt;span style="color: rgb(51, 102, 255);"&gt;&lt;/span&gt;&lt;/li&gt;&lt;/ul&gt; &lt;/div&gt; &lt;p style="text-align: justify;"&gt;&lt;span style="color: rgb(0, 0, 0);"&gt;&lt;strong&gt;6.  KẾT LUẬN:&lt;/strong&gt;&lt;/span&gt;&lt;/p&gt; &lt;p style="text-align: justify;"&gt;Hiện nay chúng ta có thể chẩn đóan những  BTBS mà có làm thay đổi có ý nghĩa cấu trúc của tim. Việc chẩn đóan  bệnh tim trứớc sinh cần có vai trò hợp tác của các BS ở nhiều chuyên  khoa: BS sản khoa, BS nhi khoa và BS tim mạch nhi. Trong đó vai trò BS  sản khoa được nhấn mạnh như một tuyến đầu để sàng lọc, BS tim mạch thì  xác định nguy cơ cấp cứu sơ sinh, tổ chức lúc sinh và cùng với BS nhi  khoa chăm sóc trẻ sau sinh một cách tốt nhất.&lt;/p&gt; &lt;p style="text-align: justify;"&gt;&lt;span style="color: rgb(0, 0, 0);"&gt;&lt;strong&gt;Tài liệu tham khảo&lt;/strong&gt;&lt;/span&gt;&lt;/p&gt; &lt;p style="text-align: justify;"&gt;1.    Mitchelle SC, Korones SB, Berendes  HW. Congenital heart disease in 56 109 births. Incidence and natural  history. Circulation 1971; 43: 323-332&lt;/p&gt; &lt;p style="text-align: justify;"&gt;2.    Hoffman JL, Christianson R.  Congenital heart disease in a cohort of 19 502 births with long-term  follow-up. Am J Cardiol 1978; 42: 641-647&lt;/p&gt; &lt;p style="text-align: justify;"&gt;3.    Ferencz C, Rubin JD, McCarter RJ  et al. Congenital heart disease: prevalence at livebirth. The  Baltimore-Washington Infant Study. Am J Epidemiol 1985; 121: 31-36&lt;/p&gt; &lt;p style="text-align: justify;"&gt;4.    Coumbs CA, Kitzmiller JL.  Spontaneous abortion and congenital anomalies in diabetes. Ballières  Clin Obstet Gynaecol 1991; 5: 315-331&lt;/p&gt; &lt;p style="text-align: justify;"&gt;5.    Shields LE, Gan EA, Murphy HF,  Sahn DJ, Moore TR. The prognostic values of Hemoglobin A1c  in  predicting fetal heart disease in diabetic pregnancies. Obstet Gynecol  1993; 81: 954-957&lt;/p&gt; &lt;p style="text-align: justify;"&gt;6.    Rouse B, Azen C, Koch R et al.  Maternal Phenylketonuria Collaboration Study (MPKUCS) offspring: facial  anomalies, malformations, and early neurological sequelae. Am J Med  Genet 1997; 69: 89-95&lt;/p&gt; &lt;p style="text-align: justify;"&gt;7.    Cohen LS, Friedman JM, Jefferson  JW, Johnson EM, Weiner ML. A re-evaluation of risk of in utero exposure  to lithium. JAMA 1994; 271: 146-156&lt;/p&gt; &lt;p style="text-align: justify;"&gt;8.    Gregg NM. Congenital cataract following german measles in mother. The Ophthamal Soc Aust 1941; 3: 35-36&lt;/p&gt; &lt;p style="text-align: justify;"&gt;9.    Scott JS, Maddison PJ, Taylor PV,  Esscher E, Scott O. Connective-tissue disease, antibodies to  ribonucleoprotein, and congenital heart block. N Engl J Med 1983; 309:  209-212&lt;/p&gt; &lt;p style="text-align: justify;"&gt;10.    Nora JJ. Multifactorial  inheritance hypothesis for the etiology of congenital heart disease: the  genetic environment interaction. Circulation 1968; 604-617&lt;/p&gt; &lt;p style="text-align: justify;"&gt;11.    Brenner JI, Berg KA, Schneider  DS, Clark EB, Boughman JA. Cardiac malformation in relatives of infants  with hypoplastic left-heart syndrome. A J Dis Child 1989; 143: 1492-1494&lt;/p&gt; &lt;p style="text-align: justify;"&gt;12.    Skoll A, Sharland GK, Allan LD.  Ultrasound findings in non-immun hydrops. Ultrasound Obstet &amp;amp;  Gynecol 1991; 1: 309-312&lt;/p&gt; &lt;p style="text-align: justify;"&gt;13.    Allan L. Antenatal diagnosis of heart disease. Heart 2000; 83: 367&lt;/p&gt; &lt;p style="text-align: justify;"&gt;14.    BonnetD,Coltri A,  ButeraG,FermontL, Le Bidois J,KachanerJet al. Detection of transposition  of the great arteries in fetuses reduces neonatal morbidity and  mortality. Circulation1999;99: 916-918&lt;/p&gt; &lt;p style="text-align: justify;"&gt;15.    Boudjemline Y, Fermont L, Le  Bidois J, Fraisse A, Kachaner J, Villain E et al. Diagnostic prenatal  des malformations cono-troncales : résultats dans 337 cas. Arch Mal  Coeur Vaiss 2000; 93:583-586&lt;/p&gt; &lt;p style="text-align: justify;"&gt;16.    Cruz A, Mirlesse V, Le Bidois J,  Diallo P, Fermont L, Jaquemard F et al. Prise en charge des  cardiopathies congénitales foetales en centre obstétricopédiatrique. Méd  Foet Échogr Gynécol 1998; 34: 4-8&lt;/p&gt; &lt;p style="text-align: justify;"&gt;17.    Fermont L, Batisse A, Piéchaud  JF. Échographie foetale. Le dépistage prénatal des cardiopathies  congénitales. Encycl Méd Chir Paris: Elsevier SAS, 1988; Radiodiagnostic  – Coeur-Poumon, 32-014-A-10, 11p&lt;/p&gt; &lt;p style="text-align: justify;"&gt;18.    Fermont L, De Geeter B, Aubry MC  et al. A close collaboration between obstetricians and cardiologists  allows antenatal detection of severe cardiac malformations by 2Decho.  Second World Congress of Pediatric Cardiology, New York 1985; [abstract]&lt;/p&gt; &lt;p style="text-align: justify;"&gt;19.    Fermont L, Kachaner J, Sidi D.  Detection of congenital heart diseases: why and how to screen a  population. In: Chervenak FA, Isaacson GC, Campbell S, eds. Ultrasound  in obstetrics and gynecology. Boston: Little Brown and Co, 1993;  1115-1122&lt;/p&gt; &lt;p style="text-align: justify;"&gt;20.    Fermont L. Pathologies  cardiaques. In: Papiernik E, Cabrol, Pons Ceds. Obstétrique. Paris:  Flammarion Médecine-Sciences, 1995; 317-348&lt;/p&gt; &lt;p style="text-align: justify;"&gt;21.    LeBidois J,FermontL,  SidiD,KachanerJ. Diagnostic antenatal des malformations cardiaques :un  exemple de collaboration obstétricopédiatrique. Ann Pediatr 1998; 4:  178-180&lt;/p&gt; &lt;p style="text-align: justify;"&gt;22.    Todros T. Prenatal diagnosis and  management of fetal cardiovascular malformations. Curr Opin Obstet  Gynecol 2000; 12: 105-109&lt;/p&gt;&lt;p style="text-align: justify;"&gt;theo timmachhoc.vn&lt;br /&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;-----------------------------------&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Giảng Đường Y Khoa&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;a href="http://giangduongykhoa.blogspot.com/"&gt;http://giangduongykhoa.blogspot.com&lt;/a&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;a href="http://giangduongykhoa.net/"&gt;http://giangduongykhoa.net&lt;/a&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;-----------------------------------&lt;/p&gt;&lt;div class="blogger-post-footer"&gt;Giảng Đường Y Khoa - Nơi Hội Tụ Kiến Thức Y Khoa&lt;img width='1' height='1' src='https://blogger.googleusercontent.com/tracker/8347068896071358659-5075497770846950683?l=giangduongykhoa.blogspot.com' alt='' /&gt;&lt;/div&gt;</content><link rel='replies' type='application/atom+xml' href='http://giangduongykhoa.blogspot.com/feeds/5075497770846950683/comments/default' title='Đăng Nhận xét'/><link rel='replies' type='text/html' href='http://giangduongykhoa.blogspot.com/2010/12/sieu-am-tim-thai-trong-chan-oan-benh.html#comment-form' title='0 Nhận xét'/><link rel='edit' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/8347068896071358659/posts/default/5075497770846950683'/><link rel='self' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/8347068896071358659/posts/default/5075497770846950683'/><link rel='alternate' type='text/html' href='http://giangduongykhoa.blogspot.com/2010/12/sieu-am-tim-thai-trong-chan-oan-benh.html' title='Siêu âm tim thai trong chẩn đoán bệnh tim bẩm sinh trước sinh'/><author><name>Giảng Đường Y Khoa</name><uri>http://www.blogger.com/profile/01045762399869292181</uri><email>noreply@blogger.com</email><gd:image rel='http://schemas.google.com/g/2005#thumbnail' width='32' height='32' src='http://1.bp.blogspot.com/_iO0u_-8tJ8E/S95LXKfU_tI/AAAAAAAAAcY/p80KgeQ8pf0/S220/logo-1.png'/></author><thr:total>0</thr:total></entry><entry><id>tag:blogger.com,1999:blog-8347068896071358659.post-801138404820982304</id><published>2010-12-26T05:38:00.000-08:00</published><updated>2010-12-26T05:38:00.801-08:00</updated><category scheme='http://www.blogger.com/atom/ns#' term='Nội Khoa - tim mạch'/><title type='text'>Trang bị khoa hồi sức tim mạch</title><content type='html'>&lt;p&gt;&lt;/p&gt;&lt;div style="text-align: right;"&gt;&lt;strong&gt;ThS. Hồ Huỳnh Quang Trí&lt;br /&gt;&lt;em&gt;Viện Tim TP.HCM&lt;/em&gt;&lt;/strong&gt;&lt;br /&gt;&lt;/div&gt; &lt;div style="text-align: justify;"&gt;&lt;strong&gt;MỞ ĐẦU&lt;/strong&gt;&lt;br /&gt;Trong số  những người bệnh tim mạch điều trị nội trú, có một số đối tượng cần được  theo dõi, chăm sóc rất tích cực tại một khoa hồi sức tim mạch. Các đối  tượng này gồm chủ yếu là những bệnh nhân hội chứng mạch vành cấp, ngoài  ra còn có những người bị các rối loạn nhịp tim nguy hiểm, suy tim nặng  mất bù, choáng tim, phù phổi cấp, thuyên tắc mạch phổi diện rộng và  những ca thông tim can thiệp có biến chứng. Một số ca bóc tách động mạch  chủ cấp và tăng huyết áp nặng cần cấp cứu tối khẩn (hypertensive  emergency) cũng cần được chăm sóc tích cực. Nhiều bệnh nhân, nhất là  những người lớn tuổi, có nhiều bệnh kèm theo khiến cho việc chăm sóc  càng thêm phức tạp.&lt;br /&gt;Hiện nay một số bệnh viện tại thành phố Hồ Chí  Minh đã có khoa hồi sức tim mạch riêng biệt. Ở các bệnh viện còn lại,  bệnh nhân tim mạch nặng được chăm sóc tại một phòng bệnh nặng riêng của  khoa tim mạch hoặc ngay tại khoa hồi sức tổng hợp. Dù là ở đâu thì việc  chăm sóc bệnh nhân tim mạch nặng cũng đòi hỏi công tác tổ chức, huấn  luyện nhân sự và trang thiết bị thích hợp. Trừ ở các bệnh viện tư, việc  mua sắm trang thiết bị y khoa phụ thuộc vào ngân sách hạn hẹp của ngành y  tế, do đó việc sắp xếp thứ tự ưu tiên khi trang bị một khoa là rất cần  thiết. Trong bài viết này, dựa vào kinh nghiệm cá nhân và phân tích y  văn, tác giả nêu một số ý kiến về vấn đề trang bị cho một khoa hồi sức  tim mạch.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;strong&gt;TRANG BỊ KHÔNG THỂ THIẾU&lt;/strong&gt;&lt;br /&gt;Hiện nay  có một thực trạng là một số khoa được gọi là hồi sức cấp cứu nhưng chỉ  được trang bị vẻn vẹn vài máy monitor điện tim và bình oxy. Trang bị như  vậy thì không thể đòi hỏi chất lượng điều trị cao.&lt;br /&gt;Năm 2005 nhóm  chuyên gia về chăm sóc tim cấp (Working Group on Acute Cardiac Care)  thuộc Hội Tim mạch Châu Âu đã biên soạn khuyến cáo về cấu trúc, tổ chức  và hoạt động của các đơn vị chăm sóc tích cực tim mạch, trong đó có đề  cập đến vấn đề trang bị 1. Bảng 1 tóm tắt các yêu cầu về trang bị cho  một đơn vị chăm sóc tích cực tim mạch theo khuyến cáo này. Điều kiện  Việt Nam đương nhiên không thể so sánh với điều kiện của Châu Âu, dù vậy  khuyến cáo này rất hữu ích để chúng ta tham khảo.&lt;br /&gt;Về giường bệnh,  chúng ta không cần những chiếc giường tối tân dùng điện và điều khiển  bằng dàn nút bấm (đã từng được trang bị ở một số nơi trong thành phố).  Giường trong khoa hồi sức chỉ cần đáp ứng các yêu cầu sau: có bánh xe để  đẩy đi được (bánh xe có thể gài cố định), có thể nâng đầu và chân bệnh  nhân lên và phần đầu giường trống để tiện cho việc thực hiện các thủ  thuật đặt nội khí quản và chích tĩnh mạch cảnh trong.&lt;br /&gt;Các trang bị  không thể thiếu đối với một khoa hồi sức tim mạch gồm: máy monitor ở  giường bệnh, bơm tiêm điện, máy sốc điện ngoài lồng ngực và máy tạo nhịp  tạm thời.&lt;br /&gt;Mỗi đầu giường nên có một máy monitor. Đa số máy monitor  hiện nay có nhiều kênh ECG và thường có thêm các bộ phận đo huyết áp  không xâm nhập và đo độ bão hòa oxy qua da (SpO2). Nếu máy monitor không  có bộ phận đo độ bão hòa oxy qua da thì nên trang bị thêm máy đo độ bão  hòa oxy qua da riêng (tối thiểu 2 máy cho một khoa 10 giường).&lt;br /&gt;Bơm  tiêm điện và máy chỉnh lưu lượng dịch truyền là những trang bị rất quan  trọng nhưng thường không được chú trọng đúng mức. Thực tế cho thấy những  bệnh nhân nặng thường cần rất nhiều bơm tiêm điện (để truyền 2-3 thuốc  vận mạch, các thuốc chống huyết khối như heparin, thuốc tiêu sợi huyết  và thuốc đối kháng GP IIb/IIIa, insulin, kháng sinh, thuốc an thần …),  do đó khuyến cáo của Hội tim mạch Châu Âu (4-6 bơm tiêm điện cho mỗi  giường) là hoàn toàn có cơ sở. Nếu không có đủ số này thì tối thiểu cũng  nên có một bơm tiêm điện cho mỗi đầu giường cộng thêm 6 cái trong cơ số  khoa (để bảo đảm cho 2 bệnh nhân nặng cùng một lúc). Mỗi giường hồi sức  nên có một máy chỉnh lưu lượng dịch truyền.&lt;br /&gt;Máy sốc điện ngoài lồng  ngực ít khi được dùng đến nhưng có tầm quan trọng sống còn đối với bệnh  nhân tim mạch. Điều kiện của chúng ta khó bảo đảm một máy cho mỗi 3  giường như khuyến cáo của Châu Âu, tuy nhiên phải có ít nhất một máy  riêng cho khoa hồi sức tim mạch (hoặc phòng bệnh nặng của khoa tim  mạch). Máy sốc điện ngoài lồng ngực phải luôn ở trạng thái sẵn sàng hoạt  động và được bảo dưỡng định kỳ. Hiện nay nhiều máy sốc điện ngoài lồng  ngực có thêm bộ phận tạo nhịp tim tạm thời qua da (có thể đi kèm theo  máy hoặc không, tùy lựa chọn của người mua). Nếu mua máy mới thì nên mua  kèm bộ phận này.&lt;br /&gt;Máy tạo nhịp tim tạm thời cùng với bộ điện cực  đường tĩnh mạch (điện cực đường tĩnh mạch và dụng cụ luồn – introducer)  là những trang bị thiết yếu. Nên có tối thiểu 2 máy cho một khoa 10  giường (lý tưởng là một máy VVI và một máy DDD, nếu không thì 2 máy VVI  cũng được).&lt;br /&gt;Siêu âm tim là một thành phần không thể thiếu trong đánh  giá suy tim cấp và đợt mất bù của suy tim mạn. Siêu âm tim cung cấp các  thông tin về chức năng (tâm thu lẫn tâm trương) của thất trái và thất  phải, vận động từng vùng của thất trái, hoạt động của các van tim (van  nguyên gốc lẫn van nhân tạo), các biến chứng của nhồi máu cơ tim cấp (hở  van 2 lá cấp, thủng vách liên thất) và bệnh lý màng ngoài tim 2,3. Nếu  khoa hồi sức tim mạch không có một máy siêu âm tim riêng thì có thể dùng  chung với trại bệnh hoặc phòng chẩn đoán chức năng. Nhất thiết phải có  đầu dò thực quản vì nhiều bệnh nhân thở máy không thể khảo sát bằng siêu  âm tim qua thành ngực.&lt;br /&gt;Cho đến nay lợi tích của việc kiểm soát chặt  chẽ đường huyết đối với bệnh nhân nặng trong khoa hồi sức đã được chứng  minh bởi nhiều nghiên cứu 4,5. Để kiểm soát chặt chẽ đường huyết cần đo  đường huyết rất thường xuyên. Dụng cụ đo đường huyết bằng que thử cho  kết quả nhanh và cũng rẻ tiền, do đó trong khoa phải có một bộ dụng cụ  này.&lt;br /&gt;Riêng về máy giúp thở, theo kinh nghiệm của tác giả bài viết,  nên cân nhắc kỹ việc trang bị máy (và chăm sóc bệnh nhân thở máy) tại  khoa hồi sức tim mạch. Việc chăm sóc bệnh nhân thở máy đòi hỏi cả đội  ngũ bác sĩ lẫn điều dưỡng phải được huấn luyện tốt, có khả năng nhận  biết và giải quyết mọi vấn đề và biến chứng liên quan với thông khí cơ  học. Nếu nhân sự khoa hồi sức tim mạch chưa quen chăm sóc bệnh nhân thở  máy thì nên chuyển những bệnh nhân cần thở máy sang khoa hồi sức tổng  hợp. Trong trường hợp này khoa hồi sức tim mạch chỉ trang bị phương tiện  hỗ trợ hô hấp không xâm nhập (không cần đặt nội khí quản), ví dụ hệ  thống tạo áp lực dương liên tục trong đường thở (continuous positive  airway pressure – CPAP) dùng với mặt nạ.&lt;/div&gt; &lt;div style="text-align: center;"&gt;&lt;br /&gt;&lt;/div&gt; &lt;div style="text-align: center;"&gt;&lt;strong&gt;Bảng 1: Trang bị cho một đơn vị chăm sóc tích cực tim mạch theo khuyến cáo của Hội Tim mạch Châu Âu 2005&lt;sup&gt; 1&lt;/sup&gt;.&lt;/strong&gt;&lt;br /&gt; &lt;table style="border-collapse: collapse; width: 100%;" border="1" cellpadding="5" cellspacing="0"&gt; &lt;tbody style="text-align: left;"&gt; &lt;tr style="text-align: left;"&gt; &lt;td style="text-align: left;" width="143"&gt; &lt;p style="text-align: center;"&gt;TRANG BỊ&lt;/p&gt; &lt;/td&gt; &lt;td style="text-align: left;" width="425"&gt; &lt;p style="text-align: center;"&gt;YÊU CẦU&lt;/p&gt; &lt;/td&gt; &lt;/tr&gt; &lt;tr style="text-align: left;"&gt; &lt;td style="text-align: left;" valign="top" width="143"&gt; &lt;p&gt;Máy   monitor ở giường bệnh&lt;/p&gt; &lt;/td&gt; &lt;td style="text-align: left;" valign="top" width="425"&gt; &lt;p&gt;Mỗi máy   monitor phải có ≥ 2 kênh ECG, kênh đo áp lực xâm nhập, bộ  phận đo huyết áp   không xâm nhập và bộ phận đo độ bão hòa oxy qua da  (SpO&lt;sub&gt;2&lt;/sub&gt;). 50% số   máy nên có 5 kênh ECG, 2 kênh khảo sát huyết động xâm nhập, bộ phận đo ETCO&lt;sub&gt;2&lt;/sub&gt; và thân nhiệt.&lt;/p&gt; &lt;/td&gt; &lt;/tr&gt; &lt;tr style="text-align: left;"&gt; &lt;td style="text-align: left;" valign="top" width="143"&gt; &lt;p&gt;Máy   monitor trung tâm&lt;/p&gt; &lt;/td&gt; &lt;td style="text-align: left;" valign="top" width="425"&gt; &lt;p&gt;Trên màn   hình cần có ít nhất 1 chuyển đạo ECG và các thông tin chính về huyết động và   hô hấp của mỗi bệnh nhân.&lt;/p&gt; &lt;/td&gt; &lt;/tr&gt; &lt;tr style="text-align: left;"&gt; &lt;td style="text-align: left;" valign="top" width="143"&gt; &lt;p&gt;Giường bệnh&lt;/p&gt; &lt;/td&gt; &lt;td style="text-align: left;" valign="top" width="425"&gt; &lt;p&gt;Có thể   nâng và hạ đầu và chân bệnh nhân. Ở mỗi giường có hệ thống  oxy, khí nén và   chân không. Có giường riêng cho bệnh nhân cần cách ly  (ví dụ nhiễm vi khuẩn đa   kháng, HIV, lao ...). Có thể chụp X-quang tại  giường cho bệnh nhân.&lt;/p&gt; &lt;/td&gt; &lt;/tr&gt; &lt;tr style="text-align: left;"&gt; &lt;td style="text-align: left;" valign="top" width="143"&gt; &lt;p&gt;Bơm tiêm điện&lt;/p&gt; &lt;/td&gt; &lt;td style="text-align: left;" valign="top" width="425"&gt; &lt;p&gt;4-6 cái   cho mỗi giường bệnh.&lt;/p&gt; &lt;/td&gt; &lt;/tr&gt; &lt;tr style="text-align: left;"&gt; &lt;td style="text-align: left;" valign="top" width="143"&gt; &lt;p&gt;Máy giúp   thở&lt;/p&gt; &lt;/td&gt; &lt;td style="text-align: left;" valign="top" width="425"&gt; &lt;p&gt;1 máy mỗi   2 giường (tính cả hệ thống CPAP dùng với mặt nạ).&lt;/p&gt; &lt;/td&gt; &lt;/tr&gt; &lt;tr style="text-align: left;"&gt; &lt;td style="text-align: left;" valign="top" width="143"&gt; &lt;p&gt;Bóng bơm đối   xung trong động mạch chủ&lt;/p&gt; &lt;/td&gt; &lt;td style="text-align: left;" valign="top" width="425"&gt; &lt;p&gt;1 máy cho   mỗi 3 giường (6 giường đầu tiên).&lt;/p&gt; &lt;/td&gt; &lt;/tr&gt; &lt;tr style="text-align: left;"&gt; &lt;td style="text-align: left;" valign="top" width="143"&gt; &lt;p&gt;Máy thận   nhân tạo /lọc máu&lt;/p&gt; &lt;/td&gt; &lt;td style="text-align: left;" valign="top" width="425"&gt; &lt;p&gt;Nên có. Nếu   khoa thận có thể cung cấp thì tiết kiệm được chi phí.&lt;/p&gt; &lt;/td&gt; &lt;/tr&gt; &lt;tr style="text-align: left;"&gt; &lt;td style="text-align: left;" valign="top" width="143"&gt; &lt;p&gt;Máy phá   rung&lt;/p&gt; &lt;/td&gt; &lt;td style="text-align: left;" valign="top" width="425"&gt; &lt;p&gt;1 máy mỗi   3 giường.&lt;/p&gt; &lt;/td&gt; &lt;/tr&gt; &lt;tr style="text-align: left;"&gt; &lt;td style="text-align: left;" valign="top" width="143"&gt; &lt;p&gt;Máy tạo   nhịp qua da&lt;/p&gt; &lt;/td&gt; &lt;td style="text-align: left;" valign="top" width="425"&gt; &lt;p&gt;1-2 máy mỗi   6-8 giường.&lt;/p&gt; &lt;/td&gt; &lt;/tr&gt; &lt;tr style="text-align: left;"&gt; &lt;td style="text-align: left;" valign="top" width="143"&gt; &lt;p&gt;Máy tạo   nhịp tạm thời (điện cực đường tĩnh mạch)&lt;/p&gt; &lt;/td&gt; &lt;td style="text-align: left;" valign="top" width="425"&gt; &lt;p&gt;3-4 máy   VVI và 1 máy DDD mỗi 6-8 giường.&lt;/p&gt; &lt;/td&gt; &lt;/tr&gt; &lt;tr style="text-align: left;"&gt; &lt;td style="text-align: left;" valign="top" width="143"&gt; &lt;p&gt;Máy siêu   âm tim di động&lt;/p&gt; &lt;/td&gt; &lt;td style="text-align: left;" valign="top" width="425"&gt; &lt;p&gt;Có đầu dò   thực quản.&lt;/p&gt; &lt;/td&gt; &lt;/tr&gt; &lt;tr style="text-align: left;"&gt; &lt;td style="text-align: left;" valign="top" width="143"&gt; &lt;p&gt;Máy đo đông   máu (ACT)&lt;/p&gt; &lt;/td&gt; &lt;td style="text-align: left;" valign="top" width="425"&gt; &lt;p&gt;Có 1 máy   trong khoa.&lt;/p&gt; &lt;/td&gt; &lt;/tr&gt; &lt;tr style="text-align: left;"&gt; &lt;td style="text-align: left;" valign="top" width="143"&gt; &lt;p&gt;Dụng cụ đo   các chỉ điểm hoại tử cơ tim&lt;/p&gt; &lt;/td&gt; &lt;td style="text-align: left;" valign="top" width="425"&gt; &lt;p&gt;Nên có (nếu   phòng xét nghiệm trung tâm có thể cung cấp kết quả trong vòng &lt;&gt; &lt;/td&gt; &lt;/tr&gt; &lt;tr style="text-align: left;"&gt; &lt;td style="text-align: left;" valign="top" width="143"&gt; &lt;p&gt;Dụng cụ đo   đường huyết&lt;/p&gt; &lt;/td&gt; &lt;td style="text-align: left;" valign="top" width="425"&gt; &lt;p&gt;Có 1 bộ   trong khoa.&lt;/p&gt; &lt;/td&gt; &lt;/tr&gt; &lt;tr style="text-align: left;"&gt; &lt;td style="text-align: left;" valign="top" width="143"&gt; &lt;p&gt;Máy đo   khí máu động mạch và điện giải&lt;/p&gt; &lt;/td&gt; &lt;td style="text-align: left;" valign="top" width="425"&gt; &lt;p&gt;Nên có (nếu   phòng xét nghiệm trung tâm có thể cung cấp kết quả trong vòng 10 phút thì   không cần).&lt;/p&gt; &lt;/td&gt; &lt;/tr&gt; &lt;/tbody&gt; &lt;/table&gt; &lt;/div&gt; &lt;div style="text-align: justify;"&gt;&lt;br /&gt;&lt;strong&gt;TRANG BỊ NÊN CÓ&lt;/strong&gt;&lt;br /&gt;Ưu  tiên 1 khi trang bị khoa hồi sức tim mạch đã được đề cập ở phần trên.  Khi đã có đầy đủ các máy móc thiết bị đã kể trên thì nên tính đến việc  trang bị thêm các phương tiện sau (xếp theo thứ tự ưu tiên giảm dần): bộ  theo dõi huyết áp xâm nhập, bóng bơm đối xung trong động mạch chủ và  ca-tê-te Swan-Ganz.&lt;br /&gt;Bộ theo dõi huyết áp xâm nhập (hay còn gọi theo  dõi huyết áp trực tiếp trong động mạch) gồm một ca-tê-te luồn vào trong  động mạch (động mạch quay hoặc động mạch đùi) của bệnh nhân, hệ thống  dây chứa đầy nước muối sinh lý pha heparin, bộ phận biến năng  (transducer), hệ thống xả tự động (để ngừa nghẹt ca-tê-te) và dây cáp  nối vào máy monitor. Hình 1 cho thấy ca-tê-te đặt vào trong động mạch  quay (ở cổ tay bệnh nhân) và được nối với hệ thống dây. Trừ dây cáp nối  máy monitor, tất cả những thành phần còn lại đều dùng một lần. Monitor  dùng với bộ theo dõi huyết áp xâm nhập phải có cấu hình thích hợp (tức  là có kênh tương ứng).&lt;br /&gt;Đo huyết áp trực tiếp trong động mạch cho kết  quả rất chính xác, kể cả khi huyết áp bệnh nhân rất thấp. Với hệ thống  này, có thể lấy máu động mạch của bệnh nhân một cách rất dễ dàng để kiểm  tra khí máu động mạch định kỳ. Kết quả đo huyết áp được thể hiện liên  tục trên màn hình monitor, gồm huyết áp tâm thu, tâm trương và trung  bình. Huyết áp trung bình là thông số quan trọng nhất vì phản ánh áp lực  tưới máu trung bình trong một chu kỳ tim. Khi chăm sóc bệnh nhân  choáng, việc duy trì huyết áp trung bình trên 65 mm Hg là một ưu tiên  hàng đầu 6. Theo dõi huyết áp xâm nhập được chỉ định cho bệnh nhân  choáng, tiền choáng, huyết động không ổn định 6,7. Một số bệnh nhân tăng  huyết áp nặng cần cấp cứu tối khẩn, phải dùng thuốc hạ huyết áp truyền  tĩnh mạch cũng hưởng lợi từ phương pháp theo dõi này 8.&lt;br /&gt;Ở thành phố  Hồ Chí Minh hiện nay phương pháp theo dõi huyết áp này chỉ được dùng chủ  yếu ở các đơn vị mổ tim hở chứ chưa phổ biến trong các khoa hồi sức  khác, nhất là hồi sức nội khoa. Chúng tôi cho rằng khoa hồi sức tim mạch  (và cả khoa hồi sức tổng hợp) của tất cả các bệnh viện loại 1 và bệnh  viện tuyến tỉnh cần được trang bị phương tiện này.&lt;/div&gt; &lt;div style="text-align: center;"&gt;&lt;img alt="Trangbi-h1" src="http://timmachhoc.vn/images/stories/tongquantimmach/Trangbi-h1.jpg" width="366" height="366" /&gt;&lt;/div&gt; &lt;div style="text-align: center;"&gt;&lt;span style="color: rgb(51, 102, 255);"&gt;Hình 1: Ca-tê-te đặt vào trong động mạch quay ở cổ tay bệnh nhân, dùng để theo dõi huyết áp trực tiếp trong động mạch.&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;/div&gt; &lt;div style="text-align: justify;"&gt;Ở bệnh nhân nhồi máu cơ tim cấp biến  chứng choáng tim, bóng bơm đối xung trong động mạch chủ được dùng để hỗ  trợ huyết động trong khi chờ và sau khi can thiệp mạch vành qua da hoặc  mổ bắc cầu nối động mạch vành 9. Những bệnh viện có tiếp nhận bệnh nhân  nhồi máu cơ tim cấp và thực hiện can thiệp mạch vành qua da cấp cứu cần  được trang bị bóng bơm đối xung trong động mạch chủ (nếu không đủ điều  kiện trang bị một máy cho mỗi 3 giường như theo hướng dẫn của Hội Tim  mạch Châu Âu thì cũng nên có ít nhất một máy chung cho khoa hồi sức tim  mạch và khoa tim mạch can thiệp).&lt;br /&gt;Trang bị ưu tiên hàng cuối cùng là  ca-tê-te Swan-Ganz (hay còn gọi ca-tê-te động mạch phổi – pulmonary  artery catheter). Ca-tê-te Swan-Ganz cung cấp những thông số huyết động  chính: áp lực đổ đầy (áp lực động mạch phổi bít, áp lực tĩnh mạch trung  tâm), áp lực động mạch phổi, cung lượng tim, chỉ số tim, độ bão hòa oxy  máu tĩnh mạch trộn, sức cản mạch hệ thống và sức cản mạch phổi. Muốn  dùng ca-tê-te Swan-Ganz phải có một monitor có cấu hình thích hợp (có  kênh tương ứng). Có một thời trước đây ca-tê-te Swan-Ganz được xem là  phương tiện bắt buộc phải có khi chăm sóc bệnh nhân choáng hoặc phù phổi  cấp. Tuy nhiên hiện nay siêu âm tim đã thay thế vai trò của ca-tê-te  Swan-Ganz. Năm 1996 Connors và cộng sự công bố một thông tin gây chấn  động đối với giới hồi sức cấp cứu: Nghiên cứu của các tác giả này trên  2016 bệnh nhân nằm hồi sức cho thấy những người được theo dõi huyết động  bằng ca-tê-te Swan-Ganz có tử vong trong 30 ngày cao hơn có ý nghĩa so  với những người không dùng ca-tê-te này 10. Gần đây có 2 thử nghiệm lâm  sàng phân nhóm ngẫu nhiên có qui mô lớn đánh giá lợi ích của ca-tê-te  Swan-Ganz là ESCAPE (thực hiện trên 433 người suy tim nặng phải nhập  viện) và PAC-Man (thực hiện trên 1014 bệnh nhân nằm hồi sức) 11, 12. Cả 2  thử nghiệm lâm sàng này đều cho thấy theo dõi huyết động bằng ca-tê-te  Swan-Ganz không giảm tử vong và biến chứng và cũng không rút ngắn thời  gian nằm hồi sức và nằm viện của bệnh nhân.&lt;br /&gt;2 tác giả Wiener và  Welch khảo sát sự thay đổi về tần suất thực hiện các thủ thuật hồi sức  tại các bệnh viện ở Hoa Kỳ từ 1993 đến 2004. Kết quả khảo sát cho thấy  tần suất đặt nội khí quản có khuynh hướng tăng theo thời gian, tần suất  đặt ca-tê-te trong động mạch để theo dõi huyết áp xâm nhập có lúc giảm  nhưng sau đó tăng lại, còn tần suất đặt ca-tê-te Swan-Ganz giảm dần theo  thời gian (hình 2) 13.&lt;br /&gt;Hiện nay chỉ định đặt ca-tê-te Swan-Ganz được  giới hạn ở những trường hợp choáng có dạng huyết động phức tạp, những  trường hợp không phân biệt được giữa phù phổi cấp do tim hay không do  tim và để phục vụ cho nghiên cứu 2,14.&lt;/div&gt; &lt;div style="text-align: justify;"&gt;Theo ý kiến riêng của người viết bài,  việc trang bị ca-tê-te Swan-Ganz chỉ nên xem xét đối với các trung tâm  chuyên khoa và viện-trường nhằm phục vụ cho giảng dạy và nghiên cứu khoa  học.&lt;/div&gt; &lt;div style="text-align: justify;"&gt;&lt;br /&gt;&lt;/div&gt; &lt;p style="text-align: center;"&gt;&lt;img alt="Trangbi-h2" src="http://timmachhoc.vn/images/stories/tongquantimmach/Trangbi-h2.jpg" width="500" height="302" /&gt;&lt;/p&gt; &lt;div style="text-align: justify;"&gt; &lt;div style="text-align: center;"&gt;&lt;span style="color: rgb(51, 102, 255);"&gt;Hình  2: Tỉ lệ đặt nội khí quản (đường biểu diễn trên cùng), đặt ca-tê-te  trong động mạch để theo dõi huyết áp xâm nhập (đường biểu diễn giữa) và  đặt ca-tê-te Swan-Ganz (đường biểu diễn dưới cùng) tại các bệnh viện ở  Hoa Kỳ (năm 1993 được lấy làm mốc để so sánh)&lt;sup&gt; 13&lt;/sup&gt;.&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;/div&gt; &lt;/div&gt; &lt;div style="text-align: justify;"&gt;&lt;br /&gt;&lt;/div&gt; &lt;strong&gt;KẾT LUẬN&lt;/strong&gt;&lt;br /&gt;Mua sắm  máy móc y khoa là nhu cầu thường xuyên của các bệnh viện. Một số máy móc  tuy đắt tiền nhưng sau khi được đưa vào sử dụng cho phép lấy lại vốn  nhanh chóng và sau đó thu lãi. Các máy móc trang bị cho khoa hồi sức  không thuộc dạng này. Tuy nhiên không phải vì vậy mà chúng ta chỉ chú  trọng đến các loại máy “đẻ ra tiền” và bỏ quên máy móc hồi sức mà cần có  sự cân đối trong mua sắm. Trang bị tốt cho khoa hồi sức tim mạch là  điều kiện thiết yếu để nâng cao chất lượng điều trị. Điều này một mặt  thể hiện y đức, mặt khác góp phần nâng cao uy tín của bệnh viện qua việc  cứu chữa được những ca bệnh khó. Trách nhiệm của người thầy thuốc công  tác tại các khoa, đơn vị hồi sức tim mạch là góp tiếng nói tham mưu cho  lãnh đạo bệnh viện về trang thiết bị cần có trong khoa và thứ tự ưu tiên  trong mua sắm các trang thiết bị này.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;strong&gt;TÀI LIỆU THAM KHẢO&lt;/strong&gt;&lt;br /&gt;1)     Hasin Y, Danchin N, Filippatos GS, et al, on behalf of the Working  Group on Acute Cardiac Care of the European Society of Cardiology.  Recommendations for the structure, organization, and operation of  intensive cardiac care units. Eur Heart J doi:10.1093/eurheartj/ehi202.&lt;br /&gt;2)     Dickstein K, Cohen-Solal A, Filippatos G, et al. ESC guidelines for the  diagnosis and treatment of acute and chronic heart failure 2008. The  Task Force for the Diagnosis and Treatment of Acute and Chronic Heart  Failure 2008 of the European Society of Cardiology. Eur Heart J  2008;29:2388-2442.&lt;br /&gt;3)    Beaulieu Y. Bedside echocardiography in the assessment of the critically ill. Crit Care Med 2007;35(suppl5):S235-S249.&lt;br /&gt;4)     Van den Berghe G, Wouters P, Weekers F, et al. Intensive insulin  therapy in the critically ill patients. N Engl J Med 2001;345:1359-1367.&lt;br /&gt;5)     Pittas AG, Siegel RD, Lau J. Insulin therapy for critically ill  hospitalized patients : a meta-analysis of randomized controlled trials.  Arch Intern Med 2004;164:2005-2011.&lt;br /&gt;6)    Pinsky MR. Hemodynamic evaluation and monitoring in the ICU. Chest 2007;132:2020-2029.&lt;br /&gt;7)     Winters ME, McCurdy MT, Zilberstein J. Monitoring the critically ill  emergency department patient. Emerg Med Clin North Am. 2008;26:741-757.&lt;br /&gt;8)    Marik PE, Varon J. Hypertensive crises: Challenges and management. Chest 2007;131:1949-1962.&lt;br /&gt;9)     Antman EM, Anbe DT, Armstrong PW, et al. ACC/AHA guidelines for the  management of patients with ST-elevation myocardial infarction. A report  of the American College of Cardiology/American Heart Association Task  Force on Practice Guidelines (Committee to revise the 1999 guidelines  for the management of patients with acute myocardial infarction).  www.acc.org&lt;br /&gt;10)    Connors AF Jr, Speroff T, Dawson NV, et al. The  effectiveness of right heart catheterization in the initial care of  critically ill patients. SUPPORT Investigators. JAMA 1996;276:889-897.&lt;br /&gt;11)     Binanay C, Califf RM, Hasselblad V, et al. Evaluation study of  congestive heart failure and pulmonary artery catheterization  effectiveness: the ESCAPE trial. JAMA 2005;294:1625-1633.&lt;br /&gt;12)     Harvey S, Harrison DA, Singer M et al. Assessment of the clinical  effectiveness of pulmonary artery catheters in management of patients in  intensive care (PAC-Man): a randomised controlled trial. Lancet  2005;366:472-477.&lt;br /&gt;13)    Wiener RS, Welch HG. Trends in the use of  the pulmonary artery catheter in the United States, 1993-2004. JAMA  2007;298:423-429.&lt;br /&gt;Chatterjee K. The Swan-Ganz catheters: past, present, and future: a viewpoint. Circulation 2009;119:147-152.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;theo timmachhoc.vn&lt;br /&gt;&lt;p&gt;-----------------------------------&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Giảng Đường Y Khoa&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;a href="http://giangduongykhoa.blogspot.com/"&gt;http://giangduongykhoa.blogspot.com&lt;/a&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;a href="http://giangduongykhoa.net/"&gt;http://giangduongykhoa.net&lt;/a&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;-----------------------------------&lt;/p&gt;&lt;div class="blogger-post-footer"&gt;Giảng Đường Y Khoa - Nơi Hội Tụ Kiến Thức Y Khoa&lt;img width='1' height='1' src='https://blogger.googleusercontent.com/tracker/8347068896071358659-801138404820982304?l=giangduongykhoa.blogspot.com' alt='' /&gt;&lt;/div&gt;</content><link rel='replies' type='application/atom+xml' href='http://giangduongykhoa.blogspot.com/feeds/801138404820982304/comments/default' title='Đăng Nhận xét'/><link rel='replies' type='text/html' href='http://giangduongykhoa.blogspot.com/2010/12/trang-bi-khoa-hoi-suc-tim-mach.html#comment-form' title='0 Nhận xét'/><link rel='edit' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/8347068896071358659/posts/default/801138404820982304'/><link rel='self' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/8347068896071358659/posts/default/801138404820982304'/><link rel='alternate' type='text/html' href='http://giangduongykhoa.blogspot.com/2010/12/trang-bi-khoa-hoi-suc-tim-mach.html' title='Trang bị khoa hồi sức tim mạch'/><author><name>Giảng Đường Y Khoa</name><uri>http://www.blogger.com/profile/01045762399869292181</uri><email>noreply@blogger.com</email><gd:image rel='http://schemas.google.com/g/2005#thumbnail' width='32' height='32' src='http://1.bp.blogspot.com/_iO0u_-8tJ8E/S95LXKfU_tI/AAAAAAAAAcY/p80KgeQ8pf0/S220/logo-1.png'/></author><thr:total>0</thr:total></entry><entry><id>tag:blogger.com,1999:blog-8347068896071358659.post-6952022367707599148</id><published>2010-12-25T05:37:00.000-08:00</published><updated>2010-12-25T05:37:00.193-08:00</updated><category scheme='http://www.blogger.com/atom/ns#' term='Nội Khoa - tim mạch'/><title type='text'>Tìm hiểu tác động của thuốc ức chế men chuyển trên chuỗi bệnh lý tim mạch: Từ dữ kiện lâm sàng đến cơ chế</title><content type='html'>&lt;p&gt;&lt;/p&gt;&lt;div style="text-align: right;"&gt;&lt;strong&gt;ThS. Hồ Huỳnh Quang Trí&lt;/strong&gt;&lt;br /&gt;&lt;em&gt;&lt;strong&gt;Viện Tim TP.HCM&lt;/strong&gt;&lt;/em&gt;&lt;/div&gt; &lt;div style="text-align: justify;"&gt;&lt;strong&gt;CHUỖI BỆNH LÝ TIM MẠCH VÀ TÁC ĐỘNG CỦA THUỐC ỨC CHẾ MEN CHUYỂN&lt;/strong&gt;&lt;br /&gt;Cách  đây gần 18 năm, trong một bài đăng trên báo “American Heart Journal”,  hai tác giả Dzau và Braunwald lần đầu tiên đề cập đến một khái niệm là  “chuỗi bệnh lý tim mạch” (the cardiovascular continuum)&lt;sup&gt; 1&lt;/sup&gt;.   Theo các tác giả này, khởi đầu của chuỗi bệnh lý tim mạch chính là các  yếu tố nguy cơ như rối loạn lipid máu, tăng huyết áp, đái tháo đường,  hút thuốc và béo phì. Các yếu tố nguy cơ này nếu không được kiểm soát  tốt sẽ dẫn đến xơ vữa động mạch và phì đại thất trái mà hậu quả của các  tình trạng này chính là bệnh mạch vành. Bệnh mạch vành có biến chứng  nguy hiểm là huyết khối tắc mạch vành gây nhồi máu cơ tim cấp. Nếu không  được điều trị đúng, những người bệnh nhồi máu cơ tim không chết trong  giai đoạn cấp do suy bơm nặng hoặc rối loạn nhịp thất sẽ bị tái định  dạng, dãn thất trái và chết do suy tim tiến triển. Từ các mối liên hệ  nhân quả này, các tình trạng bệnh lý nêu trên được xâu lại với nhau  thành một chuỗi bệnh lý tim mạch (hình 1). Dzau và Braunwald cho rằng  can thiệp vào bất cứ một khâu nào trong chuỗi bệnh lý tim mạch cũng ngăn  sự tiến triển của chuỗi và góp phần vào việc bảo vệ tim mạch &lt;sup&gt;1&lt;/sup&gt;.&lt;/div&gt; &lt;div style="text-align: center;"&gt;&lt;a class="jcebox" target="_blank" href="http://timmachhoc.vn/images/stories/tongquantimmach/Dzau-h1.jpg"&gt;&lt;span style=""&gt;&lt;img alt="Dzau-h1" src="http://timmachhoc.vn/images/stories/tongquantimmach/Dzau-h1.jpg" width="500" height="369" /&gt;&lt;span style="margin-left: 480px; margin-top: -20px;" class="zoom-image"&gt;&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;&lt;/a&gt;&lt;/div&gt; &lt;div style="text-align: center;"&gt;&lt;span style="color: rgb(51, 102, 255);"&gt;Hình 1: Chuỗi bệnh lý tim mạch theo Dzau và Braunwald &lt;sup&gt;1&lt;/sup&gt;.&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;/div&gt; &lt;div style="text-align: justify;"&gt;Ở thời điểm năm 2009 này nhìn lại  chúng ta thấy lý thuyết về chuỗi bệnh lý tim mạch vẫn giữ nguyên giá trị  của nó. Nhiều nghiên cứu về cơ chế bệnh sinh trên động vật thí nghiệm  cộng với hàng loạt nghiên cứu lâm sàng đã chứng minh chuỗi bệnh lý tim  mạch thực sự tồn tại và không chỉ đúng đối với hệ động mạch vành mà còn  có thể áp dụng cho các hệ động mạch khác như mạch não và động mạch ngoại  vi &lt;sup&gt;2,3&lt;/sup&gt;. Hơn nữa, kết quả của nhiều thử nghiệm lâm sàng có  qui mô lớn đã cho thấy can thiệp bằng thuốc vào các khâu khác nhau của  chuỗi bệnh lý tim mạch giúp ngăn sự tiến triển của chuỗi.&lt;br /&gt;Trong số  các thuốc được nghiên cứu, nhóm thuốc ức chế men chuyển chiếm một vị trí  rất đặc biệt. Lợi ích của nhóm thuốc này đã được chứng minh đối với hầu  như tất cả các khâu của chuỗi bệnh lý tim mạch, từ khâu sớm nhất là  kiểm soát các yếu tố nguy cơ như tăng huyết áp và đái tháo đường, cho  đến các khâu sau cùng như chống tái định dạng sau nhồi máu cơ tim và  điều trị suy tim. Bảng 1 tóm tắt số liệu của các thử nghiệm lâm sàng lớn  đánh giá hiệu quả bảo vệ tim mạch của thuốc ức chế men chuyển 4-14.  Điểm đáng lưu ý là hiệu quả bảo vệ của thuốc ức chế men chuyển được thể  hiện không chỉ trong bệnh mạch vành mà cả trong bệnh mạch máu não  (nghiên cứu PROGRESS với perindopril – bảng 1).&lt;br /&gt;&lt;div style="text-align: center;"&gt;&lt;span style="color: rgb(51, 102, 255);"&gt;Bảng 1: Các thử nghiệm lâm sàng lớn với thuốc ức chế men chuyển &lt;sup&gt;4-14&lt;/sup&gt;.&lt;/span&gt;&lt;/div&gt; &lt;div style="text-align: center;"&gt;&lt;span style="color: rgb(51, 102, 255);"&gt;  &lt;table style="border-collapse: collapse; width: 100%;" border="1" cellpadding="5" cellspacing="0"&gt; &lt;tbody style="text-align: left;"&gt; &lt;tr style="text-align: left;"&gt; &lt;td style="text-align: left;" valign="top" width="103"&gt; &lt;p&gt;&lt;span style="color: rgb(0, 0, 0);"&gt;Tên (năm   công bố)&lt;/span&gt;&lt;/p&gt; &lt;/td&gt; &lt;td style="text-align: left;" valign="top" width="200"&gt; &lt;p&gt;&lt;span style="color: rgb(0, 0, 0);"&gt;Số lượng   và đặc điểm bệnh nhân&lt;/span&gt;&lt;/p&gt; &lt;/td&gt; &lt;td style="text-align: left;" valign="top" width="96"&gt; &lt;p&gt;&lt;span style="color: rgb(0, 0, 0);"&gt;Thuốc   nghiên cứu&lt;/span&gt;&lt;/p&gt; &lt;/td&gt; &lt;td style="text-align: left;" valign="top" width="169"&gt; &lt;p&gt;&lt;span style="color: rgb(0, 0, 0);"&gt;Kết quả   chính&lt;/span&gt;&lt;/p&gt; &lt;/td&gt; &lt;/tr&gt; &lt;tr style="text-align: left;"&gt; &lt;td style="text-align: left;" valign="top" width="103"&gt; &lt;p&gt;&lt;span style="color: rgb(0, 0, 0);"&gt;UKPDS   (1998)&lt;/span&gt;&lt;/p&gt; &lt;/td&gt; &lt;td style="text-align: left;" valign="top" width="200"&gt; &lt;p&gt;&lt;span style="color: rgb(0, 0, 0);"&gt;1.148 BN ĐTĐ   týp 2 tăng HA&lt;/span&gt;&lt;/p&gt; &lt;/td&gt; &lt;td style="text-align: left;" valign="top" width="96"&gt; &lt;p&gt;&lt;span style="color: rgb(0, 0, 0);"&gt;Captopril   (hoặc atenolol)&lt;/span&gt;&lt;/p&gt; &lt;/td&gt; &lt;td style="text-align: left;" valign="top" width="169"&gt; &lt;p&gt;&lt;span style="color: rgb(0, 0, 0);"&gt;¯ 32% tử vong liên quan ĐTĐ, ¯ 37%   biến chứng vi mạch&lt;/span&gt;&lt;/p&gt; &lt;/td&gt; &lt;/tr&gt; &lt;tr style="text-align: left;"&gt; &lt;td style="text-align: left;" valign="top" width="103"&gt; &lt;p&gt;&lt;span style="color: rgb(0, 0, 0);"&gt;ASCOT (2005)&lt;/span&gt;&lt;/p&gt; &lt;/td&gt; &lt;td style="text-align: left;" valign="top" width="200"&gt; &lt;p&gt;&lt;span style="color: rgb(0, 0, 0);"&gt;19.257 BN   tăng HA có ≥ 3 yếu tố nguy cơ khác&lt;/span&gt;&lt;/p&gt; &lt;/td&gt; &lt;td style="text-align: left;" valign="top" width="96"&gt; &lt;p&gt;&lt;span style="color: rgb(0, 0, 0);"&gt;Perindopril   + amlodipine&lt;/span&gt;&lt;/p&gt; &lt;/td&gt; &lt;td style="text-align: left;" valign="top" width="169"&gt; &lt;p&gt;&lt;span style="color: rgb(0, 0, 0);"&gt;¯ 11% tử vong, ¯ 16%   biến cố và thủ thuật tim mạch&lt;/span&gt;&lt;/p&gt; &lt;/td&gt; &lt;/tr&gt; &lt;tr style="text-align: left;"&gt; &lt;td style="text-align: left;" valign="top" width="103"&gt; &lt;p&gt;&lt;span style="color: rgb(0, 0, 0);"&gt;ADVANCE   (2007)&lt;/span&gt;&lt;/p&gt; &lt;/td&gt; &lt;td style="text-align: left;" valign="top" width="200"&gt; &lt;p&gt;&lt;span style="color: rgb(0, 0, 0);"&gt;11.140 BN   ĐTĐ týp 2 (69% có tăng HA đang điều trị)&lt;/span&gt;&lt;/p&gt; &lt;/td&gt; &lt;td style="text-align: left;" valign="top" width="96"&gt; &lt;p&gt;&lt;span style="color: rgb(0, 0, 0);"&gt;Perindopril   + indapamide&lt;/span&gt;&lt;/p&gt; &lt;/td&gt; &lt;td style="text-align: left;" valign="top" width="169"&gt; &lt;p&gt;&lt;span style="color: rgb(0, 0, 0);"&gt;¯ 14% tử vong, ¯ 9%   biến chứng mạch máu lớn và vi mạch&lt;/span&gt;&lt;/p&gt; &lt;/td&gt; &lt;/tr&gt; &lt;tr style="text-align: left;"&gt; &lt;td style="text-align: left;" valign="top" width="103"&gt; &lt;p&gt;&lt;span style="color: rgb(0, 0, 0);"&gt;HOPE   (2000)&lt;/span&gt;&lt;/p&gt; &lt;/td&gt; &lt;td style="text-align: left;" valign="top" width="200"&gt; &lt;p&gt;&lt;span style="color: rgb(0, 0, 0);"&gt;9.297 BN   có bệnh mạch vành, bệnh mạch máu não, bệnh mạch máu ngoại vi hoặc ĐTĐ kèm ≥ 1   yếu tố nguy cơ&lt;/span&gt;&lt;/p&gt; &lt;/td&gt; &lt;td style="text-align: left;" valign="top" width="96"&gt; &lt;p&gt;&lt;span style="color: rgb(0, 0, 0);"&gt;Ramipril&lt;/span&gt;&lt;/p&gt; &lt;/td&gt; &lt;td style="text-align: left;" valign="top" width="169"&gt; &lt;p&gt;&lt;span style="color: rgb(0, 0, 0);"&gt;¯ 16% tử vong, ¯ 22%   NMCT, đột quị hoặc chết do nguyên nhân tim mạch&lt;/span&gt;&lt;/p&gt; &lt;/td&gt; &lt;/tr&gt; &lt;tr style="text-align: left;"&gt; &lt;td style="text-align: left;" valign="top" width="103"&gt; &lt;p&gt;&lt;span style="color: rgb(0, 0, 0);"&gt;EUROPA   (2003)&lt;/span&gt;&lt;/p&gt; &lt;/td&gt; &lt;td style="text-align: left;" valign="top" width="200"&gt; &lt;p&gt;&lt;span style="color: rgb(0, 0, 0);"&gt;13.655 BN   bệnh mạch vành ổn định không có suy tim&lt;/span&gt;&lt;/p&gt; &lt;/td&gt; &lt;td style="text-align: left;" valign="top" width="96"&gt; &lt;p&gt;&lt;span style="color: rgb(0, 0, 0);"&gt;Perindopril&lt;/span&gt;&lt;/p&gt; &lt;/td&gt; &lt;td style="text-align: left;" valign="top" width="169"&gt; &lt;p&gt;&lt;span style="color: rgb(0, 0, 0);"&gt;¯ 20% chết do nguyên nhân tim mạch,   NMCT hoặc ngưng tim&lt;/span&gt;&lt;/p&gt; &lt;/td&gt; &lt;/tr&gt; &lt;tr style="text-align: left;"&gt; &lt;td style="text-align: left;" valign="top" width="103"&gt; &lt;p&gt;&lt;span style="color: rgb(0, 0, 0);"&gt;GISSI-3   (1994)&lt;/span&gt;&lt;/p&gt; &lt;/td&gt; &lt;td style="text-align: left;" valign="top" width="200"&gt; &lt;p&gt;&lt;span style="color: rgb(0, 0, 0);"&gt;19.394 BN   NMCT cấp&lt;/span&gt;&lt;/p&gt; &lt;/td&gt; &lt;td style="text-align: left;" valign="top" width="96"&gt; &lt;p&gt;&lt;span style="color: rgb(0, 0, 0);"&gt;Lisinopril&lt;/span&gt;&lt;/p&gt; &lt;/td&gt; &lt;td style="text-align: left;" valign="top" width="169"&gt; &lt;p&gt;&lt;span style="color: rgb(0, 0, 0);"&gt;¯ 12% tử vong&lt;/span&gt;&lt;/p&gt; &lt;/td&gt; &lt;/tr&gt; &lt;tr style="text-align: left;"&gt; &lt;td style="text-align: left;" valign="top" width="103"&gt; &lt;p&gt;&lt;span style="color: rgb(0, 0, 0);"&gt;ISIS-4   (1995)&lt;/span&gt;&lt;/p&gt; &lt;/td&gt; &lt;td style="text-align: left;" valign="top" width="200"&gt; &lt;p&gt;&lt;span style="color: rgb(0, 0, 0);"&gt;58.050 BN   NMCT cấp&lt;/span&gt;&lt;/p&gt; &lt;/td&gt; &lt;td style="text-align: left;" valign="top" width="96"&gt; &lt;p&gt;&lt;span style="color: rgb(0, 0, 0);"&gt;Captopril&lt;/span&gt;&lt;/p&gt; &lt;/td&gt; &lt;td style="text-align: left;" valign="top" width="169"&gt; &lt;p&gt;&lt;span style="color: rgb(0, 0, 0);"&gt;¯ 7% tử vong&lt;/span&gt;&lt;/p&gt; &lt;/td&gt; &lt;/tr&gt; &lt;tr style="text-align: left;"&gt; &lt;td style="text-align: left;" valign="top" width="103"&gt; &lt;p&gt;&lt;span style="color: rgb(0, 0, 0);"&gt;SAVE   (1992)&lt;/span&gt;&lt;/p&gt; &lt;/td&gt; &lt;td style="text-align: left;" valign="top" width="200"&gt; &lt;p&gt;&lt;span style="color: rgb(0, 0, 0);"&gt;2.231 BN   sau NMCT, PSTM ≤ 40%&lt;/span&gt;&lt;/p&gt; &lt;/td&gt; &lt;td style="text-align: left;" valign="top" width="96"&gt; &lt;p&gt;&lt;span style="color: rgb(0, 0, 0);"&gt;Captopril&lt;/span&gt;&lt;/p&gt; &lt;/td&gt; &lt;td style="text-align: left;" valign="top" width="169"&gt; &lt;p&gt;&lt;span style="color: rgb(0, 0, 0);"&gt;¯ 19% tử vong&lt;/span&gt;&lt;/p&gt; &lt;/td&gt; &lt;/tr&gt; &lt;tr style="text-align: left;"&gt; &lt;td style="text-align: left;" valign="top" width="103"&gt; &lt;p&gt;&lt;span style="color: rgb(0, 0, 0);"&gt;AIRE   (1993)&lt;/span&gt;&lt;/p&gt; &lt;/td&gt; &lt;td style="text-align: left;" valign="top" width="200"&gt; &lt;p&gt;&lt;span style="color: rgb(0, 0, 0);"&gt;2.006 BN   suy tim sau NMCT&lt;/span&gt;&lt;/p&gt; &lt;/td&gt; &lt;td style="text-align: left;" valign="top" width="96"&gt; &lt;p&gt;&lt;span style="color: rgb(0, 0, 0);"&gt;Ramipril&lt;/span&gt;&lt;/p&gt; &lt;/td&gt; &lt;td style="text-align: left;" valign="top" width="169"&gt; &lt;p&gt;&lt;span style="color: rgb(0, 0, 0);"&gt;¯ 27% tử vong&lt;/span&gt;&lt;/p&gt; &lt;/td&gt; &lt;/tr&gt; &lt;tr style="text-align: left;"&gt; &lt;td style="text-align: left;" valign="top" width="103"&gt; &lt;p&gt;&lt;span style="color: rgb(0, 0, 0);"&gt;TRACE   (1995)&lt;/span&gt;&lt;/p&gt; &lt;/td&gt; &lt;td style="text-align: left;" valign="top" width="200"&gt; &lt;p&gt;&lt;span style="color: rgb(0, 0, 0);"&gt;1.749 BN   sau NMCT, PSTM ≤ 35%&lt;/span&gt;&lt;/p&gt; &lt;/td&gt; &lt;td style="text-align: left;" valign="top" width="96"&gt; &lt;p&gt;&lt;span style="color: rgb(0, 0, 0);"&gt;Trandolapril&lt;/span&gt;&lt;/p&gt; &lt;/td&gt; &lt;td style="text-align: left;" valign="top" width="169"&gt; &lt;p&gt;&lt;span style="color: rgb(0, 0, 0);"&gt;¯ 22% tử vong&lt;/span&gt;&lt;/p&gt; &lt;/td&gt; &lt;/tr&gt; &lt;tr style="text-align: left;"&gt; &lt;td style="text-align: left;" valign="top" width="103"&gt; &lt;p&gt;&lt;span style="color: rgb(0, 0, 0);"&gt;PREAMI   (2006)&lt;/span&gt;&lt;/p&gt; &lt;/td&gt; &lt;td style="text-align: left;" valign="top" width="200"&gt; &lt;p&gt;&lt;span style="color: rgb(0, 0, 0);"&gt;1.252 BN   sau NMCT, tuổi ≥ 65, PSTM ≥ 40%&lt;/span&gt;&lt;/p&gt; &lt;/td&gt; &lt;td style="text-align: left;" valign="top" width="96"&gt; &lt;p&gt;&lt;span style="color: rgb(0, 0, 0);"&gt;Perindopril&lt;/span&gt;&lt;/p&gt; &lt;/td&gt; &lt;td style="text-align: left;" valign="top" width="169"&gt; &lt;p&gt;&lt;span style="color: rgb(0, 0, 0);"&gt;¯ 38% chết, nhập viện vì suy tim hoặc   tái định dạng thất trái&lt;/span&gt;&lt;/p&gt; &lt;/td&gt; &lt;/tr&gt; &lt;tr style="text-align: left;"&gt; &lt;td style="text-align: left;" valign="top" width="103"&gt; &lt;p&gt;&lt;span style="color: rgb(0, 0, 0);"&gt;CONSENSUS   (1987)&lt;/span&gt;&lt;/p&gt; &lt;/td&gt; &lt;td style="text-align: left;" valign="top" width="200"&gt; &lt;p&gt;&lt;span style="color: rgb(0, 0, 0);"&gt;253 BN   suy tim nặng (NYHA IV)&lt;/span&gt;&lt;/p&gt; &lt;/td&gt; &lt;td style="text-align: left;" valign="top" width="96"&gt; &lt;p&gt;&lt;span style="color: rgb(0, 0, 0);"&gt;Enalapril&lt;/span&gt;&lt;/p&gt; &lt;/td&gt; &lt;td style="text-align: left;" valign="top" width="169"&gt; &lt;p&gt;&lt;span style="color: rgb(0, 0, 0);"&gt;¯ 40% tử vong sau 6 tháng, ¯ 31%   tử vong sau 1 năm&lt;/span&gt;&lt;/p&gt; &lt;/td&gt; &lt;/tr&gt; &lt;tr style="text-align: left;"&gt; &lt;td style="text-align: left;" valign="top" width="103"&gt; &lt;p&gt;&lt;span style="color: rgb(0, 0, 0);"&gt;SOLVD   (1991)&lt;/span&gt;&lt;/p&gt; &lt;/td&gt; &lt;td style="text-align: left;" valign="top" width="200"&gt; &lt;p&gt;&lt;span style="color: rgb(0, 0, 0);"&gt;2.369 BN   suy tim, PSTM ≤ 35%&lt;/span&gt;&lt;/p&gt; &lt;/td&gt; &lt;td style="text-align: left;" valign="top" width="96"&gt; &lt;p&gt;&lt;span style="color: rgb(0, 0, 0);"&gt;Enalapril&lt;/span&gt;&lt;/p&gt; &lt;/td&gt; &lt;td style="text-align: left;" valign="top" width="169"&gt; &lt;p&gt;&lt;span style="color: rgb(0, 0, 0);"&gt;¯ 18% tử vong&lt;/span&gt;&lt;/p&gt; &lt;/td&gt; &lt;/tr&gt; &lt;tr style="text-align: left;"&gt; &lt;td style="text-align: left;" valign="top" width="103"&gt; &lt;p&gt;&lt;span style="color: rgb(0, 0, 0);"&gt;PEP-CHF   (2006)&lt;/span&gt;&lt;/p&gt; &lt;/td&gt; &lt;td style="text-align: left;" valign="top" width="200"&gt; &lt;p&gt;&lt;span style="color: rgb(0, 0, 0);"&gt;850 BN   suy tim tâm trương, &gt; 70 tuổi&lt;/span&gt;&lt;/p&gt; &lt;/td&gt; &lt;td style="text-align: left;" valign="top" width="96"&gt; &lt;p&gt;&lt;span style="color: rgb(0, 0, 0);"&gt;Perindopril&lt;/span&gt;&lt;/p&gt; &lt;/td&gt; &lt;td style="text-align: left;" valign="top" width="169"&gt; &lt;p&gt;&lt;span style="color: rgb(0, 0, 0);"&gt;¯ 31% chết hoặc nhập viện vì suy   tim&lt;/span&gt;&lt;/p&gt; &lt;/td&gt; &lt;/tr&gt; &lt;tr style="text-align: left;"&gt; &lt;td style="text-align: left;" valign="top" width="103"&gt; &lt;p&gt;&lt;span style="color: rgb(0, 0, 0);"&gt;PROGRESS   (2001)&lt;/span&gt;&lt;/p&gt; &lt;/td&gt; &lt;td style="text-align: left;" valign="top" width="200"&gt; &lt;p&gt;&lt;span style="color: rgb(0, 0, 0);"&gt;6.105 BN   có tiền sử đột quị hoặc cơn thiếu máu não thoáng qua&lt;/span&gt;&lt;/p&gt; &lt;/td&gt; &lt;td style="text-align: left;" valign="top" width="96"&gt; &lt;p&gt;&lt;span style="color: rgb(0, 0, 0);"&gt;Perindopril   ± indapamide&lt;/span&gt;&lt;/p&gt; &lt;/td&gt; &lt;td style="text-align: left;" valign="top" width="169"&gt; &lt;p&gt;&lt;span style="color: rgb(0, 0, 0);"&gt;¯ 28% đột quị&lt;/span&gt;&lt;/p&gt; &lt;/td&gt; &lt;/tr&gt; &lt;/tbody&gt; &lt;/table&gt; &lt;strong&gt;&lt;span style="color: rgb(0, 0, 0);"&gt; &lt;span style="text-decoration: underline;"&gt;Ghi chú&lt;/span&gt;: BN = bệnh nhân; ĐTĐ = đái tháo đường; HA = huyết áp; NMCT = nhồi máu cơ tim; PSTM = phân suất tống máu.&lt;/span&gt;&lt;/strong&gt;&lt;/span&gt;&lt;/div&gt; &lt;div style="text-align: center;"&gt;&lt;span style="color: rgb(51, 102, 255);"&gt;&lt;br /&gt;&lt;/span&gt;&lt;/div&gt; &lt;strong&gt;THUỐC ỨC CHẾ MEN CHUYỂN BẢO VỆ TIM MẠCH ĐƠN THUẦN QUA TÁC DỤNG HẠ HUYẾT ÁP ?&lt;/strong&gt;&lt;br /&gt;Câu  hỏi được một số nhà nghiên cứu đặt ra là: Thuốc ức chế men chuyển có  hiệu quả bảo vệ tim mạch đơn thuần là do tác dụng hạ huyết áp hay qua  một cơ chế nào khác độc lập với tác dụng hạ huyết áp ? Lời giải đáp cho  câu hỏi này có thể tìm thấy qua việc phân tích kết quả của một số thử  nghiệm lâm sàng được công bố gần đây.&lt;br /&gt;HOPE (Heart Outcomes Prevention  Evaluation) là một thử nghiệm lâm sàng thực hiện trên 9.297 người bệnh  tim mạch do xơ vữa động mạch, trong đó 80% có bệnh mạch vành 7. Như đã  trình bày trên bảng 1, kết quả HOPE cho thấy điều trị bằng thuốc ức chế  men chuyển ramipril giảm 16% (p = 0,005) tử vong do mọi nguyên nhân và  giảm 22% (p &lt; 0,001) các biến cố nhồi máu cơ tim, đột quị hoặc chết  do nguyên nhân tim mạch. Sự khác biệt về mức huyết áp giữa 2 nhóm  ramipril và placebo rất nhỏ: Sau 2 năm huyết áp của nhóm ramipril thấp  hơn so với nhóm placebo 3/2 mm Hg và vào cuối nghiên cứu mức khác biệt  này là 3/1 mm Hg. EUROPA (EURopean trial On Reduction of cardiac events  with Perindopril in stable coronary Artery disease) là một thử nghiệm  lâm sàng thực hiện trên 13.655 người bệnh mạch vành ổn định không có suy  tim 8. Kết quả EUROPA cho thấy điều trị bằng thuốc ức chế men chuyển  perindopril giảm 20% (p = 0,0003) các biến cố chết do nguyên nhân tim  mạch, nhồi máu cơ tim hoặc ngưng tim được cứu sống. Nếu dùng tiêu chí  đánh giá của HOPE (phối hợp các biến cố nhồi máu cơ tim, đột quị hoặc  chết do nguyên nhân tim mạch) thì mức giảm bởi điều trị bằng perindopril  là 17% (p &lt; 0,001). Mức chênh lệch huyết áp trung bình giữa 2 nhóm  perindopril và placebo trong suốt quá trình theo dõi là 5/2 mm Hg.&lt;br /&gt;ACTION  (A Coronary disease Trial Investigating Outcome with Nifedipine GITS)  là một thử nghiệm lâm sàng thực hiện trên 7.665 người bệnh mạch vành ổn  định không có suy tim (tương tự như bệnh nhân tham gia HOPE và EUROPA)  15. Bệnh nhân được phân ngẫu nhiên cho dùng thuốc chẹn canxi nifedipine  dạng GITS 60 mg/ngày hoặc placebo. Trong nghiên cứu này mức chênh lệch  huyết áp trung bình giữa 2 nhóm nifedipine GITS và placebo là 6,5/3 mm  Hg, cao hơn so với mức chênh lệch huyết áp được ghi nhận trong HOPE và  EUROPA. Sau thời gian theo dõi trung bình 4,9 năm, các tác giả nhận thấy  tần suất các biến cố tim mạch nặng (chết, nhồi máu cơ tim cấp, đau thắt  ngực kháng trị, suy tim mới mắc, đột quị, tái tưới máu ngoại vi) của 2  nhóm nifedipine GITS và placebo tương đương nhau. Điều trị bằng  nifedipine GITS cũng không có ảnh hưởng trên tử vong do nguyên nhân tim  mạch lẫn tử vong do mọi nguyên nhân.&lt;br /&gt;Như vậy, nếu so sánh kết quả  của 3 nghiên cứu HOPE, EUROPA và ACTION, ta có thể rút ra kết luận là  hiệu quả bảo vệ của thuốc ức chế men chuyển đối với người bệnh mạch vành  ổn định không chỉ đơn thuần là do tác dụng hạ huyết áp.&lt;br /&gt;Phân tích  kết quả của nghiên cứu ASCOT (Anglo-Scandinavian Cardiac Outcomes Trial)  cũng cho phép rút ra thông tin quan trọng về hiệu quả bảo vệ tim mạch  của thuốc ức chế men chuyển perindopril. ASCOT là một thử nghiệm lâm  sàng phân nhóm ngẫu nhiên so sánh hiệu quả giảm tử vong và biến chứng  tim mạch của 2 chế độ điều trị, amlodipine phối hợp perindopril và  atenolol phối hợp bendroflumethiazide, trên 19.257 bệnh nhân tăng huyết  áp có kèm theo ít nhất 3 yếu tố nguy cơ tim mạch khác 5. Ở nhóm  amlodipine-perindopril bệnh nhân được khởi trị bằng amlodipine và sau đó  phối hợp thêm perindopril để hạ huyết áp xuống dưới mức 140/90 mm Hg  (&lt; 130/80 mm Hg đối với bệnh nhân đái tháo đường). Trong suốt quá  trình theo dõi huyết áp của nhóm amlodipine-perindopril thấp hơn không  nhiều so với nhóm atenolol-thiazide (2,7/1,9 mm Hg). Tuy nhiên phối hợp  amlodipine-perindopril có hiệu quả vượt trội so với so với phối hợp  atenolol-thiazide: giảm 11% (p = 0,025) tử vong do mọi nguyên nhân, 24%  (p = 0,001) tử vong do nguyên nhân tim mạch và 16% (p &lt; 0,0001) tổng  các biến cố và thủ thuật tim mạch. Điều đáng lưu ý là trong 2 năm đầu tử  vong do mọi nguyên nhân của nhóm amlodipine-perindopril cao hơn so với  nhóm atenolol-thiazide và kể từ thời điểm 2 năm tử vong của nhóm  amlodipine-perindopril mới giảm xuống thấp hơn. Điều này được thể hiện  rõ qua 2 đường Kaplan-Meier biểu diễn tử vong dồn của 2 nhóm: 2 đường  này cắt nhau ở thời điểm 2 năm và kể từ đó đường biểu diễn của nhóm  amlodipine-perindopril nằm dưới và ngày càng tách khỏi đường biểu diễn  của nhóm atenolol-thiazide (hình 2). Mức chênh lệch huyết áp giữa 2 nhóm  trong 2 năm đầu và sau đó không khác nhau, do đó không thể giải thích  hiện tượng này bằng sự chênh lệch huyết áp. Điểm mấu chốt trong ASCOT là  vào thời điểm 2 năm đa số bệnh nhân nhóm amlodipine-perindopril đã được  dùng perindopril trong ít nhất 1 năm. Kết quả này (phối hợp thêm  perindopril đủ thời gian giúp mang lại hiệu quả cao hơn so với  amlodipine đơn trị ban đầu) chứng tỏ tầm quan trọng của thuốc ức chế men  chuyển perindopril trong ngăn ngừa tử vong-tật bệnh ở bệnh nhân tăng  huyết áp nguy cơ cao và cũng cho thấy perindopril có hiệu quả bảo vệ tim  mạch độc lập với tác dụng hạ huyết áp.&lt;br /&gt;&lt;div style="text-align: center;"&gt;&lt;img alt="Dzau-h2" src="http://timmachhoc.vn/images/stories/tongquantimmach/Dzau-h2.jpg" width="500" height="389" /&gt;&lt;/div&gt; &lt;div style="text-align: center;"&gt;&lt;span style="color: rgb(51, 102, 255);"&gt;Hình  2: Tử vong dồn của 2 nhóm amlodipine-perindopril và atenolol-thiazide  trong nghiên cứu ASCOT. Ở thời điểm 2 năm 2 đường biểu diễn cắt nhau.&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;/div&gt; &lt;strong&gt;CƠ CHẾ BẢO VỆ TIM MẠCH CỦA THUỐC ỨC CHẾ MEN CHUYỂN: TÁC ĐỘNG TRÊN QUÁ TRÌNH CHẾT TẾ BÀO THEO CHƯƠNG TRÌNH&lt;/strong&gt;&lt;br /&gt;Lớp  nội mô lót bên trong các mạch máu gồm 1-6 x 1013 tế bào, tuy chỉ nặng  khoảng 1 kg nhưng có vai trò cực kỳ quan trọng trong kiểm soát trương  lực mạch máu, tính thấm thành mạch, lưu lượng máu, đông máu, tiêu huyết  khối, sửa chữa và tăng trưởng mô 16. Rối loạn chức năng nội mô chính là  khâu khởi đầu của quá trình sinh xơ vữa động mạch. Ở lớp nội mô có quá  trình chết tế bào theo chương trình (apoptosis) xảy ra một cách thường  xuyên, các tế bào chết được thay thế bởi những tế bào mới. Bình thường  chết tế bào theo chương trình diễn ra ở mức thấp. Nếu chết tế bào theo  chương trình tăng quá mức (so với quá trình tái tạo tế bào mới) sự toàn  vẹn của lớp nội mô sẽ bị ảnh hưởng, tạo thuận lợi cho quá trình sinh xơ  vữa động mạch cũng như các biến chứng của nó &lt;sup&gt;16,17&lt;/sup&gt;.&lt;br /&gt;Nghiên  cứu PERTINENT (Perindopril, Thrombosis, Inflammation, Endothelial  Dysfunction and Neurohormonal Activation Trial), một nhánh của nghiên  cứu EUROPA, cung cấp thông tin rất thú vị về cơ chế tác dụng của  perindopril 18. Các nhà nghiên cứu nuôi cấy tế bào nội mô lấy từ tĩnh  mạch rốn của người, sau đó cho tế bào nội mô tiếp xúc trong 72 giờ với  huyết thanh của 87 bệnh nhân tham gia EUROPA (43 người nhóm perindopril  và 44 người nhóm placebo) và 45 người chứng khỏe mạnh ghép cặp theo tuổi  với các bệnh nhân. Các thông số được đánh giá sau 72 giờ tiếp xúc gồm:  (1) mức độ chết tế bào theo chương trình của các tế bào nội mô, (2) hoạt  tính của enzym ecNOS (endothelial constitutive nitric oxide synthase)  trong các tế bào nội mô (ecNOS là enzym tổng hợp NO). Bằng thí nghiệm  này, các nhà nghiên cứu muốn mô phỏng ảnh hưởng của máu lưu thông trên  quá trình chết tế bào theo chương trình và chức năng nội mô mạch máu.  Qui trình này được thực hiện 2 lần, lần đầu lúc bệnh nhân mới được tuyển  vào EUROPA và lần thứ 2 là sau 1 năm. Kết quả PERTINENT cho thấy ở lần 1  tế bào nội mô ủ với huyết thanh bệnh nhân tham gia EUROPA có tỉ lệ chết  theo chương trình cao hơn và hoạt tính ecNOS thấp hơn so với tế bào nội  mô ủ với huyết thanh người chứng khỏe mạnh. Ở lần 2 (sau 1 năm) tế bào  nội mô ủ với huyết thanh bệnh nhân nhóm perindopril có tỉ lệ chết theo  chương trình cũng như hoạt tính ecNOS được cải thiện đáng kể so với tế  bào nội mô ủ với huyết thanh bệnh nhân nhóm placebo (bảng 2). Có thể nói  nghiên cứu PERTINENT đã cung cấp chứng cứ hết sức thuyết phục về tác  dụng cải thiện chức năng nội mô của perindopril. Nhiều nhà nghiên cứu  cho rằng tác dụng này góp phần quan trọng vào hiệu quả bảo vệ tim mạch  của thuốc &lt;sup&gt;19,20&lt;/sup&gt;.&lt;br /&gt;&lt;div style="text-align: center;"&gt;&lt;strong&gt;Bảng 2: Chết theo chương trình và hoạt tính ecNOS (µmol/phút/mg) của tế bào nội mô – Nghiên cứu PERTINENT &lt;sup&gt;18&lt;/sup&gt;.&lt;br /&gt; &lt;table style="border-collapse: collapse; width: 100%;" border="1" cellpadding="5" cellspacing="0"&gt; &lt;tbody&gt; &lt;tr&gt; &lt;td rowspan="3" width="91"&gt; &lt;p&gt; &lt;/p&gt; &lt;/td&gt; &lt;td rowspan="3" width="57"&gt; &lt;p&gt;Người chứng&lt;/p&gt; &lt;/td&gt; &lt;td rowspan="3" width="53"&gt; &lt;p&gt;P*&lt;/p&gt; &lt;/td&gt; &lt;td colspan="5" width="367"&gt; &lt;p&gt;Bệnh nhân tham gia EUROPA&lt;/p&gt; &lt;/td&gt; &lt;/tr&gt; &lt;tr&gt; &lt;td colspan="2" width="152"&gt; &lt;p&gt;Ban đầu&lt;/p&gt; &lt;/td&gt; &lt;td colspan="3" width="215"&gt; &lt;p&gt;Sau 1 năm&lt;/p&gt; &lt;/td&gt; &lt;/tr&gt; &lt;tr&gt; &lt;td width="70"&gt; &lt;p&gt;Placebo&lt;/p&gt; &lt;/td&gt; &lt;td width="83"&gt; &lt;p&gt;Perindopril&lt;/p&gt; &lt;/td&gt; &lt;td width="70"&gt; &lt;p&gt;Placebo&lt;/p&gt; &lt;/td&gt; &lt;td width="88"&gt; &lt;p&gt;Perindopril&lt;/p&gt; &lt;/td&gt; &lt;td width="57"&gt; &lt;p&gt;P †&lt;/p&gt; &lt;/td&gt; &lt;/tr&gt; &lt;tr&gt; &lt;td width="91"&gt; &lt;p&gt;Chết tế   bào theo chương trình (%)&lt;/p&gt; &lt;/td&gt; &lt;td width="57"&gt; &lt;p&gt;1,3&lt;/p&gt; &lt;/td&gt; &lt;td width="53"&gt; &lt;p&gt;&lt;&gt; &lt;/td&gt; &lt;td width="70"&gt; &lt;p&gt;7,8&lt;/p&gt; &lt;/td&gt; &lt;td width="83"&gt; &lt;p&gt;6,8&lt;/p&gt; &lt;/td&gt; &lt;td width="70"&gt; &lt;p&gt;7,0&lt;/p&gt; &lt;/td&gt; &lt;td width="88"&gt; &lt;p&gt;4,7&lt;/p&gt; &lt;/td&gt; &lt;td width="57"&gt; &lt;p&gt;&lt;&gt; &lt;/td&gt; &lt;/tr&gt; &lt;tr&gt; &lt;td width="91"&gt; &lt;p&gt;Hoạt tính   ecNOS&lt;/p&gt; &lt;/td&gt; &lt;td width="57"&gt; &lt;p&gt;3,5&lt;/p&gt; &lt;/td&gt; &lt;td width="53"&gt; &lt;p&gt;&lt;&gt; &lt;/td&gt; &lt;td width="70"&gt; &lt;p&gt;2,5&lt;/p&gt; &lt;/td&gt; &lt;td width="83"&gt; &lt;p&gt;2,4&lt;/p&gt; &lt;/td&gt; &lt;td width="70"&gt; &lt;p&gt;2,9&lt;/p&gt; &lt;/td&gt; &lt;td width="88"&gt; &lt;p&gt;3,3&lt;/p&gt; &lt;/td&gt; &lt;td width="57"&gt; &lt;p&gt;&lt;&gt; &lt;/td&gt; &lt;/tr&gt; &lt;/tbody&gt; &lt;/table&gt; &lt;/strong&gt;&lt;/div&gt; &lt;/div&gt; &lt;div style="text-align: justify;"&gt;&lt;strong&gt;* So sánh giữa người chứng với bệnh nhân tham gia EUROPA lúc ban đầu.&lt;br /&gt;† So sánh giữa placebo với perindopril.&lt;/strong&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;/div&gt; &lt;strong&gt;CÓ PHẢI TẤT CẢ CÁC THUỐC ỨC CHẾ MEN CHUYỂN CÓ HIỆU QUẢ BẢO VỆ TIM MẠCH NHƯ NHAU ?&lt;/strong&gt;&lt;br /&gt;Cho  đến nay có 4 nghiên cứu đánh giá hiệu quả bảo vệ tim mạch của thuốc ức  chế men chuyển đối với người bệnh mạch vành ổn định là HOPE, EUROPA,  QUIET (QUinapril Ischemic Event Trial) và PEACE (Prevention of Events  with Angiotensin Converting Enzyme inhibition).&lt;br /&gt;QUIET là một thử  nghiệm lâm sàng trên 1.750 người bệnh mạch vành ổn định không có rối  loạn chức năng thất trái và đã được can thiệp mạch vành qua da trong 72  giờ trước, một nửa được phân cho dùng thuốc ức chế men chuyển quinapril  và một nửa được phân cho dùng placebo, theo dõi trung bình 27 tháng 21.  Kết quả QUIET cho thấy điều trị bằng quinapril không giảm nguy cơ bị các  biến cố thiếu máu cục bộ nặng (chết do nguyên nhân tim, ngưng tim được  cứu sống, nhồi máu cơ tim không chết, mổ bắc cầu mạch vành, nong động  mạch vành qua da hoặc nhập viện vì đau thắt ngực) so với placebo. PEACE  là một thử nghiệm lâm sàng trên 8.290 người bệnh mạch vành ổn định không  có rối loạn chức năng thất trái, một nửa được phân cho dùng thuốc ức  chế men chuyển trandolapril và một nửa được phân cho dùng placebo 22.  Sau thời gian theo dõi trung vị 4,8 năm, tần suất các biến cố tim mạch  nặng (chết do nguyên nhân tim mạch, nhồi máu cơ tim, tái tưới máu mạch  vành) là 21,9% ở nhóm trandolapril và 22,5% ở nhóm placebo (khác biệt  không có ý nghĩa thống kê).&lt;br /&gt;Câu hỏi được nhiều nhà nghiên cứu đặt ra  là vì sao ở người bệnh mạch vành ổn định, liệu pháp ức chế men chuyển có  hiệu quả bảo vệ tim mạch trong 2 nghiên cứu HOPE và EUROPA nhưng lại  không có hiệu quả này trong QUIET và PEACE.&lt;br /&gt;Có ý kiến cho rằng sở dĩ  liệu pháp ức chế men chuyển tỏ ra không có lợi trong QUIET và PEACE là  vì bệnh nhân tham gia 2 nghiên cứu này có nguy cơ nền thấp hơn so với  bệnh nhân tham gia HOPE và EUROPA, ở những người có nguy cơ nền thấp như  vậy liệu pháp ức chế men chuyển khó mà giảm hơn nữa các biến cố tim  mạch nặng 23. Để làm sáng tỏ điều này, các tác giả EUROPA đã thực hiện 2  phân tích theo phân nhóm. Trong phân tích đầu tiên, các tác giả xác  định lợi ích của perindopril đối với các phân nhóm bệnh nhân tham gia  nghiên cứu EUROPA được chia theo mức nguy cơ nền (nguy cơ nền thấp,  trung bình và cao). Kết quả phân tích này cho thấy perindopril giảm có ý  nghĩa các biến cố tim mạch nặng ở cả 3 phân nhóm có nguy cơ nền thấp,  trung bình và cao (bệnh nhân ở phân nhóm nguy cơ nền thấp có đặc điểm  giống bệnh nhân tham gia PEACE) 24. Trong phân tích thứ hai, các tác giả  xác định lợi ích của perindopril đối với những bệnh nhân tham gia  EUROPA đã được tái tưới máu mạch vành trước đó (những người này có đặc  điểm giống bệnh nhân tham gia QUIET). Kết quả phân tích này cho thấy ở  phân nhóm 6.709 bệnh nhân đã được tái tưới máu mạch vành perindopril  cũng giảm có ý nghĩa các biến cố chết do nguyên nhân tim mạch, nhồi máu  cơ tim hoặc ngưng tim được cứu sống (mức giảm 17,3%, p = 0,035) 25. Như  vậy, 2 phân tích theo phân nhóm này chứng tỏ 4 nghiên cứu HOPE, EUROPA,  QUIET và PEACE cho kết quả khác nhau không phải vì bệnh nhân tham gia có  đặc điểm khác nhau. Điều duy nhất có thể giải thích sự khác nhau về kết  quả của 4 nghiên cứu này chính là thuốc ức chế men chuyển được dùng  trong mỗi nghiên cứu, hay nói cách khác, không phải tất cả thuốc ức chế  men chuyển đều có hiệu quả bảo vệ tim mạch như nhau.&lt;br /&gt;Thí nghiệm của  Ceconi và cộng sự minh họa rất rõ sự khác biệt giữa các thuốc ức chế men  chuyển: Các tác giả cho chuột thí nghiệm uống 5 loại thuốc ức chế men  chuyển khác nhau trong 7 ngày, sau đó tiêm lipopolysaccharide của vi  khuẩn cho chuột (Lipopolysaccharide gây tăng vận tốc chết tế bào theo  chương trình) 26. Sau khi tiêm các tác giả mổ chuột để khảo sát mức chết  tế bào theo chương trình trong động mạch chủ của chuột. Kết quả khảo  sát cho thấy tỉ lệ chết tế bào theo chương trình thấp nhất ở lô chuột  được cho uống perindopril, kế đó là lô chuột được cho uống ramipril 26.&lt;br /&gt;Theo  Ferrari, perindopril và ramipril có tác dụng chống chết tế bào theo  chương trình mạnh nhất và đồng thời có ái lực rất mạnh với mô nên có  hiệu quả bảo vệ tim mạch cao nhất trong số các thuốc ức chế men chuyển  20.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;strong&gt;LIỀU BẢO VỆ TIM MẠCH CỦA THUỐC ỨC CHẾ MEN CHUYỂN&lt;/strong&gt;&lt;br /&gt;Trong  thực hành lâm sàng, một số thầy thuốc e ngại dùng ức chế men chuyển đủ  liều cho những bệnh nhân không có tăng huyết áp. Nếu xem lại 2 nghiên  cứu HOPE và EUROPA ta sẽ thấy điều lo ngại này hoàn toàn không có cơ sở. &lt;br /&gt;Tỉ lệ bệnh nhân tăng huyết áp trong nghiên cứu HOPE là 47%. Liều  ramipril đích trong nghiên cứu này là 10 mg/ngày. Tỉ lệ bệnh nhân nhóm  ramipril dùng liều 10 mg/ngày là 82,9% sau 1 năm, 74,6% sau 2 năm, 70,9%  sau 3 năm và 65% khi chấm dứt nghiên cứu. Tỉ lệ tụt huyết áp hoặc  choáng váng (có thể liên quan với tụt huyết áp) là 1,9% trong nhóm  ramipril và 1,5% trong nhóm placebo (khác biệt không có ý nghĩa thống  kê) 7.&lt;br /&gt;Trong EUROPA chỉ có 27% bệnh nhân có tăng huyết áp. Liều  perindopril đích trong nghiên cứu này là 8 mg/ngày (liều tối đa). Sau 3  năm trong nhóm perindopril có 81% vẫn còn dùng perindopril, trong đó chỉ  có 7% bệnh nhân giảm xuống liều 4 mg/ngày. Tỉ lệ tụt huyết áp là 1%  trong nhóm perindopril và 0,3% trong nhóm placebo 8.&lt;br /&gt;Từ kết quả HOPE  và đặc biệt là EUROPA, ta có thể rút ra kết luận là khi dùng ức chế men  chuyển đủ liều cho bệnh nhân không có tăng huyết áp nguy cơ tụt huyết  áp rất thấp. Vì liều ức chế men chuyển đã được chứng minh là giảm các  biến cố tim mạch nặng là 10 mg/ngày đối với ramipril và 8 mg/ngày đối  với perindopril, khi điều trị người bệnh mạch vành thầy thuốc nên tăng  liều dần để đạt đến các liều này (8 mg/ngày perindopril tert-butylamine  tương ứng với 10 mg/ngày perindopril arginine).&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;strong&gt;TÀI LIỆU THAM KHẢO&lt;/strong&gt;&lt;br /&gt;1)     Dzau V, Braunwald E, and Participants.  Resolved and unresolved issues  in the prevention and treatment of coronary artery disease: a workshop  consensus statement. Am Heart J 1991;121:1244-1262.&lt;br /&gt;2)    Dzau VJ,  Antman EM, Black HR, et al. The cardiovascular disease continuum  validated: Clinical evidence of improved patient outcomes: Part I:  Pathophysiology and clinical trial evidence (risk factors through stable  coronary artery disease). Circulation 2006;114:2850-2870.&lt;br /&gt;3)    Dzau  VJ, Antman EM, Black HR, et al. The cardiovascular disease continuum  validated: Clinical evidence of improved patient outcomes: Part II:  Clinical trial evidence (acute coronary syndromes through renal disease)  and future directions. Circulation 2006;114:2871-2891.&lt;br /&gt;4)    UK  Prospective Diabetes Study Group. Tight blood pressure control and risk  of macrovascular and microvascular complications in type 2 diabetes:  UKPDS 38. BMJ 1998;317:703-714.&lt;br /&gt;5)    Dahlof B, Sever PS, Poulter  NR, et al, for the ASCOT investigators. Prevention of cardiovascular  events with an antihypertensive regimen of amlodipine adding perindopril  as required versus atenolol adding bendroflumethiazide as required, in  the Anglo-Scandinavian Cardiac Outcomes Trial-Blood Pressure Lowering  Arm (ASCOT-BPLA): a multicentre randomised controlled trial. Lancet  2005;366:895-906.&lt;br /&gt;6)    ADVANCE Collaborative Group. Effects of a  fixed combination of perindopril and indapamide on macrovascular and  microvascular outcomes in patients with type 2 diabetes mellitus  (the  ADVANCE trial): a randomised controlled trial. Lancet 2007;370:829-840.&lt;br /&gt;7)     The HOPE Investigators. Effects of an angiotensin-converting-enzyme  inhibitor, ramipril, on cardiovascular events in high-risk patients. N  Engl J Med 2000;342;145-153.&lt;br /&gt;8)    The EUROPA Investigators. Efficacy  of perindopril in reduction of cardiovascular events among patients  with stable coronary artery disease: randomised, double-blind,  placebo-controlled, multicentre trial (the EUROPA trial). Lancet  2003;362:782-788.&lt;br /&gt;9)    ACE Inhibitor Myocardial Infarction  Collaborative Group. Indications for ACE inhibitors in the early  treatment of acute myocardial infarction. Circulation 1998;97:2202-2212.&lt;br /&gt;10)     The PREAMI Investigators. Effects of angiotensin-converting enzyme  inhibition with perindopril on left ventricular remodeling and clinical  outcome. Results of the Randomised Perindopril and Remodeling in Elderly  with Acute Myocardial Infarction (PREAMI) Study. Arch Intern Med  2006;166:659-666.&lt;br /&gt;11)    The CONSENSUS Trial Study Group. Effects of  enalapril on mortality in severe congestive heart failure. Results of  the Cooperative North Scandinavian Enalapril Survival Study (CONSENSUS).  N Engl J Med 1987;316:1429-1435.&lt;br /&gt;12)    The SOLVD Investigators.  Effect of enalapril on survival in patients with reduced left  ventricular ejection fractions and congestive heart failure. N Engl J  Med 1991;325:293-302.&lt;br /&gt;13)    Cleland JG, Tendera M, Adamus J, et al.  The perindopril in elderly people with chronic heart failure (PEP-CHF)  study. Eur Heart J 2006;27:2338-2345.&lt;br /&gt;14)    PROGRESS Collaborative  Group. Randomised trial of a perindopril-based blood-pressure-lowering  regimen among 6105 individuals with previous stroke or transient  ischaemic attack. Lancet 2001;358:1033-1041.&lt;br /&gt;15)    Poole-Wilson PA,  Lubsen J, Kirwan BA, et al, on behalf of the ACTION Investigators.  Effect of long-acting nifedipine on mortality and cardiovascular  morbidity in patients with stable angina requiring treatment (ACTION  trial): a randomised controlled trial. Lancet 2004;364:849-857.&lt;br /&gt;16)    Galley HF, Webster NR. Physiology of the endothelium. Br J Anesth 2004;93:105-113.&lt;br /&gt;17)     Stefanec T. Endothelial apoptosis: Could it have a role in the  pathogenesis and treatment of disease? Chest 2000;117:841-854.&lt;br /&gt;18)     Ceconi C, Fox KM, Remme WJ, et al. ACE inhibition with perindopril and  endothelial function. Results of a substudy of the EUROPA study:  PERTINENT. Cardiovasc Res 2007;73:237-246.&lt;br /&gt;19)    Fox K. Benefits of  perindopril all along the cardiovascular continuum: the level of  evidence. Eur Heart J Suppl 2008;10(suppl G):G4-G12.&lt;br /&gt;20)    Ferrari  R. Treatment with angiotensin-converting enzyme inhibitors: insights  into perindopril cardiovascular protection. Eur Heart J Suppl  2008;10(suppl G):G13-G20.&lt;br /&gt;21)    Pitt B, O’Neill B, Feldman R, et al,  QUIET Study Group. The quinapril ischemic event trial (QUIET):  evaluation of chronic ACE inhibitor therapy in patients with ischemic  heart disease and preserved left ventricular function. Am J Cardiol  2001;87:1058-1063.&lt;br /&gt;22)    The PEACE Trial Investigators.  Angiotensin-converting-enzyme inhibition in stable coronary artery  disease. N Engl J Med 2004;351:2058-2068.&lt;br /&gt;23)    Pitt B. ACE  inhibitors for patients with vascular disease without left ventricular  dysfunction-may they rest in PEACE? N Engl J Med 2004;351:2115-2117.&lt;br /&gt;24)     Deckers JW, Goedhart DM, Boersma E, et al, on behalf of the EUROPA  Investigators. Treatment benefit by perindopril in patients with stable  coronary artery disease with different levels of risk. Eur Heart J  2006;27:796-801.&lt;br /&gt;25)    Fox KM, Bertrand ME, Remme WJ, et al, on  behalf of the EUROPA Investigators. Efficacy of perindopril in reducing  risk of cardiac events in patients with revascularized coronary artery  disease. Am Heart J 2007;153:629-635.&lt;br /&gt;26) Ceconi C, Francolini G,  Bastianon D, et al. Differences in the effect of angiotensin-converting  enzyme inhibitors on the rate of endothelial cell apoptosis: in vitro  and in vivo studies. Cardiovasc Drugs Ther 2007;21:423-429.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;theo timmachhoc.vn&lt;br /&gt;&lt;p&gt;-----------------------------------&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Giảng Đường Y Khoa&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;a href="http://giangduongykhoa.blogspot.com/"&gt;http://giangduongykhoa.blogspot.com&lt;/a&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;a href="http://giangduongykhoa.net/"&gt;http://giangduongykhoa.net&lt;/a&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;-----------------------------------&lt;/p&gt;&lt;div class="blogger-post-footer"&gt;Giảng Đường Y Khoa - Nơi Hội Tụ Kiến Thức Y Khoa&lt;img width='1' height='1' src='https://blogger.googleusercontent.com/tracker/8347068896071358659-6952022367707599148?l=giangduongykhoa.blogspot.com' alt='' /&gt;&lt;/div&gt;</content><link rel='replies' type='application/atom+xml' href='http://giangduongykhoa.blogspot.com/feeds/6952022367707599148/comments/default' title='Đăng Nhận xét'/><link rel='replies' type='text/html' href='http://giangduongykhoa.blogspot.com/2010/12/tim-hieu-tac-ong-cua-thuoc-uc-che-men.html#comment-form' title='0 Nhận xét'/><link rel='edit' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/8347068896071358659/posts/default/6952022367707599148'/><link rel='self' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/8347068896071358659/posts/default/6952022367707599148'/><link rel='alternate' type='text/html' href='http://giangduongykhoa.blogspot.com/2010/12/tim-hieu-tac-ong-cua-thuoc-uc-che-men.html' title='Tìm hiểu tác động của thuốc ức chế men chuyển trên chuỗi bệnh lý tim mạch: Từ dữ kiện lâm sàng đến cơ chế'/><author><name>Giảng Đường Y Khoa</name><uri>http://www.blogger.com/profile/01045762399869292181</uri><email>noreply@blogger.com</email><gd:image rel='http://schemas.google.com/g/2005#thumbnail' width='32' height='32' src='http://1.bp.blogspot.com/_iO0u_-8tJ8E/S95LXKfU_tI/AAAAAAAAAcY/p80KgeQ8pf0/S220/logo-1.png'/></author><thr:total>0</thr:total></entry><entry><id>tag:blogger.com,1999:blog-8347068896071358659.post-7088771668473904532</id><published>2010-12-24T05:37:00.000-08:00</published><updated>2010-12-24T05:37:00.488-08:00</updated><category scheme='http://www.blogger.com/atom/ns#' term='Nội Khoa - tim mạch'/><title type='text'>Bước phát triển mới của phòng ngừa tiên phát bệnh tim mạch: Liệu pháp Statin dựa trên hs-CRP</title><content type='html'>&lt;p&gt;&lt;/p&gt;&lt;div style="text-align: right;"&gt;&lt;strong&gt;ThS. Hồ Huỳnh Quang Trí&lt;/strong&gt;&lt;br /&gt;&lt;em&gt;Viện Tim TP Hồ Chí Minh&lt;/em&gt;&lt;br /&gt;&lt;/div&gt; &lt;div style="text-align: justify;"&gt;&lt;strong&gt;SỰ CẦN THIẾT PHẢI CẢI THIỆN PHÒNG NGỪA TIÊN PHÁT HIỆN TẠI&lt;/strong&gt;&lt;br /&gt;Từ  giữa thập niên 1990 lợi ích của việc phòng ngừa tiên phát bệnh tim mạch  do xơ vữa động mạch bằng thuốc nhóm statin đã được chứng minh một cách  hết sức thuyết phục bởi 2 thử nghiệm lâm sàng là WOSCOPS (West of  Scotland Coronary Prevention Study) và AFCAPS/TexCAPS (Air Force/Texas  Coronary Atherosclerosis Prevention Study). Trong nghiên cứu WOSCOPS,  6595 người đàn ông trung niên (tuổi trung bình 55,2) không có tiền sử  nhồi máu cơ tim và có LDL trong khoảng 155-232 mg/dl (trung bình 192  mg/dl) được phân ngẫu nhiên cho dùng pravastatin 40 mg/ngày hoặc placebo  và theo dõi trong 4,9 năm 1. Kết quả WOSCOPS cho thấy điều trị bằng  pravastatin giảm 31% (p &lt; 0,001) các biến cố mạch vành nặng (nhồi máu  cơ tim hoặc chết do bệnh mạch vành). AFCAPS/TexCAPS tuyển chọn những  người có mức LDL thấp hơn so với những người tham gia WOSCOPS. Trong  nghiên cứu AFCAPS/TexCAPS, 6605 người (5608 nam và 997 nữ) không có tiền  sử bệnh mạch vành, bệnh mạch máu não (đột quị hoặc cơn thiếu máu não  thoáng qua) và khập khiễng cách hồi, có LDL trong khoảng 130-190 mg/dl  (trung bình 150 mg/dl) được phân ngẫu nhiên cho dùng lovastatin (20-40  mg/ngày) hoặc placebo 2. Sau thời gian theo dõi trung bình là 5,2 năm,  các nhà nghiên cứu nhận thấy điều trị bằng lovastatin giảm 37% (p &lt;  0,001) các biến cố mạch vành cấp (nhồi máu cơ tim, đau thắt ngực hoặc  đột tử do tim). Kể từ khi kết quả của WOSCOPS và AFCAPS/TexCAPS được  công bố, liệu pháp statin bắt đầu được áp dụng rộng rãi cho những người  không có bệnh tim mạch do xơ vữa động mạch nhưng có tăng cholesterol  LDL, đặc biệt là những người có nhiều yếu tố nguy cơ tim mạch khác kèm  theo. Có thể xem đây là một bước tiến quan trọng trong phòng ngừa tiên  phát bệnh tim mạch do xơ vữa động mạch. Tuy nhiên có một thực tế là gần  50% các biến cố tim mạch nặng xảy ra ở những người trước đó hoàn toàn  khỏe mạnh và có mức LDL huyết tương trong giới hạn bình thường 3. Điều  này cho thấy phòng ngừa tiên phát bệnh tim mạch cần được cải thiện hơn  nữa.&lt;br /&gt;Trong số các chỉ điểm của nguy cơ tim mạch, có một chỉ điểm được  nghiên cứu nhiều trong thời gian gần đây là hs-CRP (high-sensitivity  C-reactive protein). Trước đây y giới quan niệm xơ vữa động mạch là một  bệnh liên quan với rối loạn lipid máu. Tuy nhiên hiện nay có nhiều chứng  cứ cho phép khẳng định phản ứng viêm đóng vai trò cực kỳ quan trọng  trong bệnh sinh xơ vữa động mạch. Khi có phản ứng viêm nồng độ CRP trong  máu tăng. Tuy nhiên hiện tượng viêm trong xơ vữa động mạch là hiện  tượng viêm mạn ở mức độ thấp nên không gây tăng CRP thông thường (Xét  nghiệm CRP thông thường chỉ phù hợp cho việc theo dõi các bệnh lý viêm  nặng). Để phát hiện hiện tượng viêm trong xơ vữa động mạch và cũng để  tầm soát nguy cơ tim mạch người ta thực hiện xét nghiệm hs-CRP, tức là  đo CRP với độ nhạy cao (cho phép xác định được nồng độ CRP rất thấp).  Đơn vị đo hs-CRP là mg/l. Nhiều nghiên cứu có qui mô lớn đã chứng minh  hs-CRP cao là một yếu tố quan trọng dự báo các biến cố tim mạch nặng  trong tương lai, ngay cả ở những người có LDL thấp 3-6. Hiện nay việc  diễn giải kết quả đo hs-CRP được thống nhất như sau: hs-CRP dưới mức 1  mg/l phản ánh nguy cơ tim mạch thấp, hs-CRP trong khoảng 1-3 mg/dl phản  ánh nguy cơ tim mạch trung bình và hs-CRP trên 3 mg/dl phản ánh nguy cơ  tim mạch cao 7. Trong một số trường hợp hs-CRP có thể rất cao (&gt; 10  mg/dl). Mức rất cao này thường gặp trong nhiễm trùng cấp (ví dụ viêm  họng). Trong trường hợp đó cần thực hiện lại xét nghiệm sau 2-3 tuần,  khi đối tượng đã hoàn toàn bình phục khỏi tình trạng nhiễm trùng cấp.  Phụ nữ sau mãn kinh dùng hormon thay thế thường có hs-CRP tăng cao. Mức  hs-CRP luôn giảm sau khi ngưng hormon thay thế 7.&lt;br /&gt;Nhiều nghiên cứu  cho thấy các thuốc nhóm statin có tác dụng giảm hs-CRP và ở người khỏe  mạnh cũng như ở người bệnh mạch vành (cả bệnh mạch vành ổn định lẫn hội  chứng mạch vành cấp), hiệu quả ngăn ngừa các biến cố tim mạch nặng của  statin có liên quan một phần với tác dụng giảm hs-CRP này 8-11.&lt;br /&gt;Một  câu hỏi được một số nhà nghiên cứu đặt ra là liệu ở những người khỏe  mạnh có LDL thấp (dưới mức được lấy làm mốc điều trị) nhưng có hs-CRP  cao, điều trị bằng statin có giảm nguy cơ bị các biến cố tim mạch nặng  hay không. Câu hỏi này đã có lời giải đáp khi nghiên cứu JUPITER được  công bố mới đây.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;strong&gt;NGHIÊN CỨU JUPITER&lt;/strong&gt;&lt;br /&gt;&lt;strong&gt;1. Mục tiêu và phương pháp: &lt;/strong&gt;&lt;br /&gt;JUPITER  (Justification for the Use of Statins in Prevention: an Intervention  Trial Evaluating Rosuvastatin) là một thử nghiệm lâm sàng phân nhóm ngẫu  nhiên, mù đôi, đa trung tâm được tiến hành tại 26 quốc gia ở Châu Âu,  Bắc Mỹ, Mỹ La tinh và Nam Phi. Mục tiêu của nghiên cứu là đánh giá hiệu  quả giảm các biến cố tim mạch nặng của rosuvastatin 20 mg/ngày so với  placebo ở những người khỏe mạnh có LDL trong giới hạn bình thường và  hs-CRP cao 12.&lt;br /&gt;Tiêu chuẩn tuyển chọn vào nghiên cứu như sau: nam = 50  tuổi hoặc nữ = 60 tuổi, không có tiền sử bệnh tim mạch, có LDL &lt; 130  mg/dl, hs-CRP = 2 mg/l và TG &lt; 500 mg/dl.&lt;br /&gt;Các tiêu chuẩn loại trừ  gồm: đang dùng hoặc đã từng dùng một thuốc hạ lipid máu, đang dùng  hormon thay thế, rối loạn chức năng gan (ALT &gt; 2 lần giới hạn trên),  creatine kinase &gt; 3 lần giới hạn trên, creatinin huyết thanh &gt; 2  mg/dl, đái tháo đường, tăng huyết áp không được kiểm soát (huyết áp tâm  thu &gt; 190 mm Hg hoặc huyết áp tâm trương &gt; 100 mm Hg), ung thư  trong vòng 5 năm trước, suy giáp không được kiểm soát (TSH &gt; 1,5 giới  hạn trên), tiền sử lạm dụng rượu.&lt;br /&gt;Sau một giai đoạn chuẩn bị kéo dài  4 tuần (tất cả người tham gia được cho uống placebo), những người thỏa  mãn các tiêu chuẩn tuyển chọn và loại trừ và tuân trị tốt (uống hơn 80%  các viên thuốc được phát) được phân ngẫu nhiên theo tỉ lệ 1:1 cho dùng  rosuvastatin 20 mg/ngày hoặc placebo. Các lần tái khám theo lịch là vào  tuần thứ 13 và các tháng thứ 6, 12, 18, 24, 30, 36, 42, 48, 54 và 60 sau  khi phân nhóm ngẫu nhiên. Các đánh giá ở mỗi lần tái khám bao gồm khám  lâm sàng, cận lâm sàng (lipid máu, hs-CRP, chức năng gan, chức năng  thận, đường huyết, HbA1c), đếm số viên thuốc (để đánh giá tuân trị) và  tầm soát các biến cố ngoại ý.&lt;br /&gt;Tiêu chí đánh giá chính của nghiên cứu  là phối hợp các biến cố nhồi máu cơ tim không chết, đột quị không chết,  nhập viện vì đau thắt ngực không ổn định, thủ thuật tái tưới máu động  mạch và chết do nguyên nhân tim mạch. Tiêu chí đánh giá phụ gồm từng  thành phần riêng rẽ của tiêu chí đánh giá chính và chết do mọi nguyên  nhân.&lt;br /&gt;JUPITER được thiết kế để kéo dài cho đến khi có đủ 520 biến cố  thuộc tiêu chí đánh giá chính xảy ra, nhằm cung cấp một độ mạnh thống kê  90% trong việc phát hiện một mức giảm 25% các biến cố với ngưỡng có ý  nghĩa thống kê 2 đuôi là 0,05. Tuy nhiên đến cuối tháng 3/2008 ủy ban  giám sát độc lập các dữ liệu và tính an toàn đã khuyến cáo chấm dứt  nghiên cứu sớm hơn dự kiến. Lúc này số biến cố là 393 và thời gian theo  dõi trung vị là 1,9 năm (dài nhất: 5 năm). Khuyến cáo này dựa trên lợi  ích được ghi nhận với điều trị bằng rosuvastatin.&lt;br /&gt;&lt;strong&gt;2. Đặc điểm các đối tượng tham gia nghiên cứu:&lt;/strong&gt;&lt;br /&gt;Tổng  cộng có 17.802 người được phân ngẫu nhiên cho dùng rosuvastatin (n =  8901) hoặc placebo (n = 8901). Tỉ lệ nữ là 38,2% và tỉ lệ chủng tộc da  đen hoặc gốc Tây Ban Nha là 25,2%. 41,4% người tham gia có hội chứng  chuyển hóa và 11,6% có tiền sử gia đình mắc bệnh mạch vành sớm. LDL  trung vị là 108 mg/dl. CRP trung vị là 4,2 mg/l ở nhóm rosuvastatin và  4,3 mg/l ở nhóm placebo. Bảng 1 tóm tắt các đặc điểm ban đầu của 2 nhóm  rosuvastatin và placebo.&lt;br /&gt;&lt;strong&gt;3. Kết quả nghiên cứu: &lt;/strong&gt;&lt;br /&gt;Vào  lúc chấm dứt nghiên cứu 75% người tham gia vẫn còn dùng thuốc nghiên  cứu (rosuvastatin hoặc placebo). Ở thời điểm 12 tháng LDL trung vị của  nhóm rosuvastatin là 55 mg/dl và của nhóm placebo là 110 mg/dl, hs-CRP  trung vị của nhóm rosuvastatin là 2,2 mg/l và của nhóm placebo là 3,5  mg/l.&lt;/div&gt; &lt;div style="text-align: center;"&gt;&lt;strong&gt;Bảng 1: Các đặc điểm ban đầu của các đối tượng tham gia nghiên cứu.&lt;/strong&gt;&lt;/div&gt; &lt;div style="text-align: center;"&gt;&lt;img alt="hs-CRP-h1" src="http://timmachhoc.vn/images/stories/tongquantimmach/hs-CRP-h1.jpg" width="425" height="452" /&gt;&lt;/div&gt; &lt;div style="text-align: center;"&gt;&lt;br /&gt;&lt;/div&gt; &lt;div style="text-align: justify;"&gt;Vào lúc chấm dứt nghiên cứu có 142  biến cố thuộc tiêu chí đánh giá chính xảy ra ở nhóm rosuvastatin so với  251 biến cố ở nhóm placebo. Tần suất biến cố là 0,77/100 người-năm theo  dõi ở nhóm rosuvastatin và 1,36/100 người-năm theo dõi ở nhóm placebo  (tỉ số nguy cơ = 0,56; KTC 95% 0,46 - 0,69; P &lt; 0,00001) (bảng 2 và  hình 1). Theo ước tính bằng phương pháp Kaplan-Meier, số người cần điều  trị bằng rosuvastatin trong 2 năm để ngăn ngừa một biến cố thuộc tiêu  chí đánh giá chính là 95. Điều trị bằng rosuvastatin giảm có ý nghĩa tất  cả các biến cố thành phần của tiêu chí đánh giá chính (bảng 2). Điều  trị bằng rosuvastatin cũng giảm có ý nghĩa tử vong do mọi nguyên nhân  (tỉ số nguy cơ = 0,80; KTC 95% 0,67 - 0,97; P = 0,02) (hình 2).&lt;br /&gt;Phân  tích theo từng phân nhóm cho thấy mọi phân nhóm xét theo tuổi, giới,  chủng tộc và mức nguy cơ nền đều hưởng lợi từ điều trị bằng  rosuvastatin. Ở những người không hút thuốc lá, không thừa cân (BMI £ 25  kg/m2), không có hội chứng chuyển hóa, có nguy cơ 10 năm tính theo  thang điểm Framingham £ 10% hoặc có LDL £ 100 mg/dl, mức giảm nguy cơ bị  các biến cố thuộc tiêu chí đánh giá chính nhờ điều trị bằng  rosuvastatin cũng tương đương với mức giảm nguy cơ này ở những người có  nguy cơ nền cao hơn.&lt;br /&gt;Tổng số các biến cố ngoại ý ở nhóm rosuvastatin  là 1352 và ở nhóm placebo là 1377 (p = 0,60). Tần suất bệnh cơ, ung thư  mới mắc, rối loạn chức năng thận và rối loạn chức năng gan của 2 nhóm  không khác biệt có ý nghĩa. Vào cuối nghiên cứu HbA1c của nhóm  rosuvastatin hơi cao hơn so với nhóm placebo (5,9% so với 5,8%; P =  0,001). Số ca đái tháo đường mới mắc do thầy thuốc điều trị báo cáo ở  nhóm rosuvastatin cao hơn so với nhóm placebo (270 ca so với 216 ca; P =  0,01). Số ca xuất huyết não là 6 ở nhóm rosuvastatin và 9 ở nhóm  placebo (P = 0,44).&lt;/div&gt; &lt;div style="text-align: center;"&gt;&lt;strong&gt;Hình 1: Tần suất dồn các biến cố thuộc tiêu chí đánh giá chính ở 2 nhóm rosuvastatin và placebo.&lt;/strong&gt;&lt;/div&gt; &lt;div style="text-align: center;"&gt;&lt;img alt="hs-CRP-h2" src="http://timmachhoc.vn/images/stories/tongquantimmach/hs-CRP-h2.jpg" width="415" height="295" /&gt;&lt;/div&gt; &lt;div style="text-align: center;"&gt;&lt;strong&gt;Hình 2: Tần suất dồn tử vong do mọi nguyên nhân ở 2 nhóm rosuvastatin và placebo.&lt;/strong&gt;&lt;/div&gt; &lt;div style="text-align: center;"&gt;&lt;img alt="hs-CRP-h3" src="http://timmachhoc.vn/images/stories/tongquantimmach/hs-CRP-h3.jpg" width="415" height="289" /&gt;&lt;/div&gt; &lt;div style="text-align: center;"&gt;&lt;strong&gt;Bảng 2: Tần suất các biến cố (mỗi 100 người-năm theo dõi) ở 2 nhóm.&lt;/strong&gt;&lt;/div&gt; &lt;div style="text-align: center;"&gt;&lt;img alt="hs-CRP-h4" src="http://timmachhoc.vn/images/stories/tongquantimmach/hs-CRP-h4.jpg" width="434" height="188" /&gt;&lt;/div&gt; &lt;div style="text-align: center;"&gt;&lt;br /&gt;&lt;/div&gt; &lt;div style="text-align: justify;"&gt;&lt;strong&gt;Ý NGHĨA CỦA NGHIÊN CỨU JUPITER&lt;/strong&gt;&lt;br /&gt;JUPITER  là một thử nghiệm lâm sàng phân nhóm ngẫu nhiên thực hiện trên những  người không có bệnh tim mạch, không có đái tháo đường, có LDL &lt; 130  mg/dl và hs-CRP ³ 2 mg/l. Nếu xét theo mức LDL thì đây là những đối  tượng có nguy cơ nền thấp. Theo hướng dẫn NCEP – ATP III của Hoa Kỳ (cập  nhật 2004), ở những người không có bệnh mạch vành, không có các tình  trạng tương đương về nguy cơ với bệnh mạch vành (trong đó có đái tháo  đường) và LDL &lt; 130 mg/dl thì việc dùng statin chỉ được xem xét nếu  có ít nhất 2 yếu tố nguy cơ tim mạch và nguy cơ 10 năm tính theo thang  điểm Framingham trong khoảng 10-20% 13. Đa số những người tham gia  JUPITER không đáp ứng các tiêu chuẩn dùng statin này. Mặc dù vậy, trong  nghiên cứu JUPITER điều trị bằng rosuvastatin giảm rất có ý nghĩa các  biến cố tim mạch nặng và tử vong do mọi nguyên nhân. Lợi ích này được  ghi nhận cả ở những phân nhóm có nguy cơ nền thấp hơn hẳn so với dân số  chung của nghiên cứu. Có một điểm đáng lưu ý là các nghiên cứu về statin  trước đây (dùng LDL làm tiêu chuẩn chọn bệnh) cho thấy ứng với một mức  giảm tuyệt đối LDL là 1 mmol/l (38,7 mg/dl) các biến cố tim mạch nặng  giảm 20% 14,15. Nếu qui nạp điều này vào nghiên cứu JUPITER thì các biến  cố tim mạch nặng phải giảm khoảng 25% trong nghiên cứu này. Tuy nhiên  so với mức giảm được dự báo, mức giảm thực tế được ghi nhận trong  JUPITER cao hơn gần gấp 2 lần (hình 3).&lt;br /&gt;Trong JUPITER tần suất các  biến cố ngoại ý đã được báo cáo với thuốc nhóm statin (như bệnh cơ, tăng  transaminase và ung thư) của 2 nhóm rosuvastatin và placebo không khác  biệt. Tần suất xuất huyết não của 2 nhóm cũng không khác biệt (Trong  nghiên cứu SPARCL, tần suất xuất huyết não tăng có ý nghĩa ở bệnh nhân  dùng atorvastatin liều cao 16). Số ca đái tháo đường mới mắc (do thầy  thuốc điều trị báo cáo) ở nhóm rosuvastatin nhiều hơn so với nhóm  placebo là một điều khá bất ngờ và chưa lý giải được. Theo các tác giả  JUPITER, không loại trừ hiện tượng này là do ngẫu nhiên &lt;sup&gt;12&lt;/sup&gt;.&lt;br /&gt;Kết  quả JUPITER là một bước tiến mới quan trọng trong phòng ngừa tiên phát  bệnh tim mạch do xơ vữa động mạch. Tuy vậy, để áp dụng kết quả này vào  thực hành lâm sàng cần làm rõ 2 vấn đề sau: Vấn đề thứ nhất là nên thực  hiện xét nghiệm hs-CRP cho những đối tượng nào và vấn đề thứ hai là xác  định tỉ số lợi ích:chi phí (cost:benefit ratio) của phòng ngừa tiên phát  bằng rosuvastatin. Về mặt kỹ thuật, hiện nay xét nghiệm hs-CRP có thể  thực hiện được tại nhiều phòng xét nghiệm. Câu hỏi đặt ra là nên đo  hs-CRP một cách thường qui hay chỉ thực hiện xét nghiệm này cho những  người không triệu chứng nhưng có nguy cơ trung gian (xét theo các chỉ  điểm nguy cơ lâm sàng chuẩn)?&lt;br /&gt;Hiện vẫn còn nhiều tranh cãi xoay  quanh 2 vấn đề nêu trên. Tuy nhiên có một điều chắc chắn là các hướng  dẫn tương lai về phòng ngừa tiên phát bệnh tim mạch do xơ vữa động mạch  của các hội chuyên khoa sẽ chịu ảnh hưởng lớn từ kết quả của nghiên cứu  JUPITER &lt;sup&gt;17&lt;/sup&gt;.&lt;/div&gt; &lt;div style="text-align: justify;"&gt;&lt;br /&gt;&lt;/div&gt; &lt;div style="text-align: justify;"&gt;&lt;strong&gt;Hình 3: Tương quan giữa mức hạ  LDL và mức giảm nguy cơ tim mạch. JUPITER PREDICTED: mức giảm nguy cơ  tim mạch trong JUPITER được dự báo theo mức giảm LDL tương ứng; JUPITER  OBSERVED: mức giảm nguy cơ tim mạch trên thực tế được ghi nhận trong  JUPITER.&lt;/strong&gt;&lt;/div&gt; &lt;div style="text-align: center;"&gt;&lt;img alt="hs-CRP-h5" src="http://timmachhoc.vn/images/stories/tongquantimmach/hs-CRP-h5.jpg" width="415" height="287" /&gt;&lt;/div&gt; &lt;div style="text-align: center;"&gt;&lt;br /&gt;&lt;/div&gt; &lt;strong&gt;TÀI LIỆU THAM KHẢO&lt;/strong&gt;&lt;br /&gt;1)     Shepherd J, Cobbe SM, Ford I, et al, for the West of Scotland Coronary  Prevention Study Group. Prevention of coronary heart disease with  pravastatin in men with hypercholesterolemia. N Engl J Med  1995;333:1301-1307.&lt;br /&gt;2)    Downs JR, Clearfield M, Weis S, et al.  Primary prevention of acute coronary events with lovastatin in men and  women with average cholesterol levels: Results of AFCAPS/TexCAPS. JAMA  1998;279:1615-1622.&lt;br /&gt;3)    Ridker PM, Rifai N, Rose L, et al.  Comparison of C-reactive protein and low-density-lipoprotein levels in  the prediction of first cardiovascular events. N Engl J Med  2002;347:1557-1565.&lt;br /&gt;4)    Ridker PM, Cushman M, Stampfer MJ, et al.  Inflammation, aspirin, and the risk of cardiovascular disease in  apparently healthy men. N Engl J Med 1997;336:973-979.&lt;br /&gt;5)    Ridker  PM, Hennekens CH, Buring JE, Rifai N. C-reactive protein and other  markers of inflammation in the prediction of cardiovascular disease in  women. N Engl J Med 2000;342:836-843.&lt;br /&gt;6)    Pai JK, Pischon T, Ma J,  et al. Inflammatory markers and the risk of coronary heart disease in  men and women. N Engl J Med 2004;351:2599-2610.&lt;br /&gt;7)    Ridker PM.  C-reactive protein: a simple test to help predict risk of heart attack  and stroke. Circulation 2003;108:e81-e85.&lt;br /&gt;8)    Albert MA, Danielson  E, Rifai N, Ridker PM. Effects of statin therapy on C-reactive protein  levels: the Pravastatin Inflammation/CRP Evaluation (PRINCE), a  randomized trial and cohort study. JAMA 2001;286:64-70.&lt;br /&gt;9)    Ridker  PM, Rifai N, Pfeffer MA, et al. Inflammation, pravastatin, and the risk  of coronary events after myocardial infarction in patients with average  cholesterol levels. Circulation 1998;98:839-844.&lt;br /&gt;10)    Morrow DA, de  Lemos JA, Sabatine MS, et al. Clinical relevance of C-reactive protein  during follow-up of patients with acute coronary syndromes in the  Aggrastat-to-Zocor Trial. Circulation 2006;114:281-288.&lt;br /&gt;11)    Ridker  PM, Morrow DA, Rose LM, et al. Relative efficacy of atorvastatin 80 mg  and pravastatin 40 mg in achieving the dual goals of low-density  lipoprotein cholesterol &lt; 70 mg/dl and C-reactive protein &lt; 2  mg/l: an analysis of the PROVE-IT TIMI-22 Trial. J Am Coll Cardiol  2005;45:1644-1648.&lt;br /&gt;12)    Ridker PM, Danielson E, Fonseca FAH, et al,  for the JUPITER Study Group. Rosuvastatin to prevent vascular events in  men and women with elevated C-reactive protein. N Engl J Med  2008;359:2195-2207.&lt;br /&gt;13)    Grundy SM, Cleeman JI, Merz NB, et al, for  the Coordinating Committee of the National Cholesterol Education  Program. Implications of recent clinical trials for the National  Cholesterol Education Program Adult Treatment Panel III Guidelines.  Circulation 2004;110:227-239.&lt;br /&gt;14)    Baigent C, Keech A, Kearney PM,  et al. Efficacy and safety of cholesterol-lowering treatment:  prospective meta-analysis of data from 90,056 participants in 14  randomised trials of statins. Lancet 2005;366:1267-1278.&lt;br /&gt;15)     Cannon CP, Steinberg BA, Murphy SA, et al. Meta-analysis of  cardiovascular outcomes trials comparing intensive versus moderate  statin therapy. J Am Coll Cardiol 2006;48:438-445.&lt;br /&gt;16)    The Stroke  Prevention by Aggressive Reduction in Cholesterol Levels (SPARCL)  Investigators. High-dose atorvastatin after stroke or transient ischemic  attack. N Engl J Med 2006;355:549-559.&lt;br /&gt;Hlatky MA. Expanding the orbit of primary prevention – Moving beyond JUPITER. N Engl J Med 2008;359:2280-2282.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;theo timmachhoc.vn&lt;br /&gt;&lt;p&gt;-----------------------------------&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Giảng Đường Y Khoa&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;a href="http://giangduongykhoa.blogspot.com/"&gt;http://giangduongykhoa.blogspot.com&lt;/a&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;a href="http://giangduongykhoa.net/"&gt;http://giangduongykhoa.net&lt;/a&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;-----------------------------------&lt;/p&gt;&lt;div class="blogger-post-footer"&gt;Giảng Đường Y Khoa - Nơi Hội Tụ Kiến Thức Y Khoa&lt;img width='1' height='1' src='https://blogger.googleusercontent.com/tracker/8347068896071358659-7088771668473904532?l=giangduongykhoa.blogspot.com' alt='' /&gt;&lt;/div&gt;</content><link rel='replies' type='application/atom+xml' href='http://giangduongykhoa.blogspot.com/feeds/7088771668473904532/comments/default' title='Đăng Nhận xét'/><link rel='replies' type='text/html' href='http://giangduongykhoa.blogspot.com/2010/12/buoc-phat-trien-moi-cua-phong-ngua-tien.html#comment-form' title='0 Nhận xét'/><link rel='edit' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/8347068896071358659/posts/default/7088771668473904532'/><link rel='self' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/8347068896071358659/posts/default/7088771668473904532'/><link rel='alternate' type='text/html' href='http://giangduongykhoa.blogspot.com/2010/12/buoc-phat-trien-moi-cua-phong-ngua-tien.html' title='Bước phát triển mới của phòng ngừa tiên phát bệnh tim mạch: Liệu pháp Statin dựa trên hs-CRP'/><author><name>Giảng Đường Y Khoa</name><uri>http://www.blogger.com/profile/01045762399869292181</uri><email>noreply@blogger.com</email><gd:image rel='http://schemas.google.com/g/2005#thumbnail' width='32' height='32' src='http://1.bp.blogspot.com/_iO0u_-8tJ8E/S95LXKfU_tI/AAAAAAAAAcY/p80KgeQ8pf0/S220/logo-1.png'/></author><thr:total>0</thr:total></entry><entry><id>tag:blogger.com,1999:blog-8347068896071358659.post-2770056785534035391</id><published>2010-12-23T05:36:00.000-08:00</published><updated>2010-12-23T05:36:00.124-08:00</updated><category scheme='http://www.blogger.com/atom/ns#' term='Nội Khoa - tim mạch'/><title type='text'>Sử dụng thuốc chẹn Bêta trong suy tim và tăng huyết áp: Các chứng cứ khoa học</title><content type='html'>&lt;p&gt;&lt;/p&gt;&lt;div style="text-align: right;"&gt;&lt;strong&gt;PGS.TS Phạm Nguyễn Vinh&lt;/strong&gt;&lt;br /&gt;&lt;/div&gt; &lt;div style="text-align: justify;"&gt;Thuốc chẹn bêta là một trong các thuốc  phổ biến trong phòng ngừa và điều trị bệnh tim mạch. Chỉ riêng tại Hoa  Kỳ, năm 2005, có tới 44 triệu toa thuốc có chẹn bêta (atenolol) (1), hầu  hết được dùng điều trị bệnh tăng huyết áp (THA). Khuyến cáo của Hội Tim  Mạch Châu Âu năm 2005 cũng nêu một số chẹn bêta có hiệu quả kéo dài đời  sống trong điều trị suy tim (2). Chẹn bêta là thuốc thường quy trong  điều trị bệnh Động mạch vành mạn và hội chứng ĐMV cấp. Hiệu quả của chẹn  bêta giúp kéo dài thời gian tâm trương trong điều trị nội khoa hẹp van  hai lá cũng được thường xuyên sử dụng.&lt;br /&gt;Y học dựa trên chứng cứ, các  nghiên cứu khoa học, là rất cần thiết. Sau nhiều năm sử dụng chẹn bêta,  cần nhìn lại về các chứng cứ khoa học để lượng định các chỉ định của  chẹn bêta đối với một số bệnh tim mạch.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;strong&gt;1. Đặc điểm của các thuốc chẹn bêta:&lt;/strong&gt;&lt;br /&gt;Ba thế hệ của chẹn bêta:&lt;br /&gt;- Thế hệ 1: các chẹn bêta không tác động chọn lọc, ức chế cả thụ thể bêta 1 và bêta 2.&lt;br /&gt;TD: Propranolol, Timolol.&lt;br /&gt;- Thế hệ 2: chẹn bêta chọn lọc trên bêta 1 (ở liều thấp)&lt;br /&gt;TD: Actebutolol, metoprolol, atenolol, bisoprolol.&lt;br /&gt;- Thế hệ 3: chẹn bêta có tính dãn lọc, có thể không chọn lọc hay chọn lọc trên thụ thể bêta 1.&lt;br /&gt;&lt;/div&gt; &lt;div style="text-align: justify;"&gt; &lt;ul&gt;&lt;li&gt;Hoạt tính dãn mạch qua phóng thích nitric oxid (NO)&lt;/li&gt;&lt;/ul&gt; TD: Nebivolol, carvedilol&lt;br /&gt; &lt;ul&gt;&lt;li&gt;Hoạt tính dãn mạch qua tác động chẹn thụ thể alpha.&lt;/li&gt;&lt;/ul&gt; TD: Labetalol, carvedilol.&lt;br /&gt;Các chẹn bêta chọn lọc bêta 1 có tác dụng  chính trên tim, ít làm co phế quản. Tuy nhiên ở liều cao, tính chọn lọc  này sẽ bị mất. Ba dược tính cần chú ý khi sử dụng chẹn bêta: tính chọn  lọc bêta 1 hay không chọn lọc; hoạt tính giống giao cảm nội tại (nếu có,  sẽ ít làm tim chậm lại); tính hoà tan trong mỡ hay trong nước (TD:  Propranolol tan trong mỡ, dễ vào não gây ác mộng)&lt;br /&gt;Cần chú ý đến đường  đào thải của chẹn bêta, bởi gan hay bởi thận. Các bệnh nhân cao tuổi,  chức năng thận thường giảm hoặc bệnh nhân có bệnh lý gan mãn tính có thể  ảnh hưởng đến đào thải chẹn bêta (Hình 3)&lt;br /&gt;Các chỉ định của chẹn bêta trong bệnh lý tim mạch được nêu trong bảng 1.&lt;br /&gt;Cần chú ý đến một số cảnh giác và chống chỉ định của chẹn bêta (bảng 2)&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;strong&gt;2. Chẹn bêta trong điều trị bệnh Tăng Huyết Áp:&lt;/strong&gt;&lt;br /&gt;Từ  hơn 30 năm, chẹn bêta được dùng phổ biến trong điều trị THA. Cho đến  năm 2003, hội Tim mạch Châu Âu và JNC VII còn khuyến cáo chẹn bêta là  thuốc lựa chọn đầu tiên trong điều trị THA (4), (5)&lt;br /&gt;Mặc dù đã sử dụng  chẹn bêta điều trị THA trên 30 năm, chưa có nghiên cứu khoa học nào  chứng minh hiệu quả giảm tật bệnh và tử vong tim mạch khi sử dụng chẹn  bêta đơn độc trong điều trị THA.&lt;/div&gt; &lt;div style="text-align: center;"&gt;&lt;img alt="Beta-h1" src="http://timmachhoc.vn/images/stories/tongquantimmach/Beta-h1.jpg" width="481" height="335" /&gt;&lt;/div&gt; &lt;div style="text-align: center;"&gt;&lt;span style="color: rgb(51, 102, 255);"&gt;Hình 1: Dược tính các chẹn bêta ( TL 3)&lt;/span&gt;&lt;/div&gt; &lt;div style="text-align: center;"&gt;&lt;br /&gt;&lt;/div&gt; &lt;div style="text-align: center;"&gt;&lt;img alt="Beta-h2" src="http://timmachhoc.vn/images/stories/tongquantimmach/Beta-h2.jpg" width="481" height="335" /&gt;&lt;/div&gt; &lt;div style="text-align: center;"&gt;&lt;span style="color: rgb(51, 102, 255);"&gt;Hình 2: Dược tính các chẹn bêta (TL 3)&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;/div&gt; &lt;div style="text-align: center;"&gt;&lt;br /&gt;&lt;/div&gt; &lt;div style="text-align: center;"&gt;&lt;img alt="Beta-h3" src="http://timmachhoc.vn/images/stories/tongquantimmach/Beta-h3.jpg" width="481" height="335" /&gt;&lt;/div&gt; &lt;div style="text-align: center;"&gt;&lt;span style="color: rgb(51, 102, 255);"&gt;Hình 3: Đường đào thải các chẹn bêta (TL3)&lt;/span&gt;&lt;/div&gt; &lt;div style="text-align: center;"&gt;&lt;br /&gt;&lt;/div&gt; &lt;div style="text-align: center;"&gt;&lt;img alt="Beta-h5" src="http://timmachhoc.vn/images/stories/tongquantimmach/Beta-h5.jpg" width="465" height="310" /&gt;&lt;/div&gt; &lt;div style="text-align: center;"&gt;&lt;span style="color: rgb(51, 102, 255);"&gt; Bảng 1: Các bệnh tim có thể điều trị bằng chẹn bêta&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;/div&gt; &lt;div style="text-align: center;"&gt;&lt;br /&gt;&lt;img alt="Beta-h4" src="http://timmachhoc.vn/images/stories/tongquantimmach/Beta-h4.jpg" width="500" height="331" /&gt;&lt;/div&gt; &lt;div style="text-align: center;"&gt;&lt;span style="color: rgb(51, 102, 255);"&gt;Bảng 2: Chống chỉ định và cảnh giác/ chẹn bêta&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;/div&gt; &lt;div style="text-align: justify;"&gt;Các phân tích gộp gần đây cho thấy  chẹn bêta không giảm tử vong chung và giảm nhồi máu cơ tim trên cả người  trẻ lẫn người cao tuổi THA (bảng 4). Ngay cả giảm đột qụy cũng chỉ  16-22 % so với placebo, thấp hơn các thuốc hạ huyết áp khác (giảm khoảng  38%).&lt;br /&gt;Một số nhược điểm khác của chẹn bêta trong điều trị THA:&lt;br /&gt;-  Hiệu quả hạ áp kém. Nghiên cứu STOP.1, nghiên cứu LIFE cho thấy nhóm  chẹn bêta chỉ đạt mục tiêu huyết áp khoảng 50% bệnh nhân (7) (8). Một  nhược điểm khác của chẹn bêta là giảm huyết áp ngoại vi nhiều hơn giảm  huyết áp trung tâm (khác với ức chế men chuyển, lợi tiểu và đối kháng  calci). Mức huyết áp trung tâm có giá trị tiên đoán biến cố tim mạch như  NMCT và đột quỵ hơn là huyết áp ngoại vi.&lt;br /&gt;- Chẹn bêta có nhiều tác dụng phụ dễ dẫn đến bỏ thuốc ở bệnh nhân THA cần điều trị lâu dài&lt;br /&gt;-  Chẹn bêta tăng đề kháng insulin do đó dễ đưa đến đái tháo đường (ĐTĐ).  Nghiên cứu gộp dựa trên 22 nghiên cứu với 143153 bệnh nhân, chẹn bêta và  lợi tiểu tăng ĐTĐ so với các thuốc hạ áp khác (9) 50.&lt;br /&gt;- Chẹn bêta  còn giảm phì đại thất trái kém hơn thuốc khác, làm tăng cân, làm giảm  khả năng gắng sức không cải thiện chức năng nội mạc (ngoại trừ  nebivolol).&lt;br /&gt;Từ những hiểu biết trên, hiện nay chẹn bêta chỉ nên sử  dụng trong những trường hợp THA có chỉ định bắt buộc chẹn bêta: THA có  kèm bệnh ĐMV, THA có kèm suy tim, THA có kèm loạn nhịp nhanh, THA trên  phụ nữ có thai, THA kèm tăng nhãn áp (5)&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;strong&gt;3. Chẹn bêta trong điều trị suy tim mạn:&lt;/strong&gt;&lt;br /&gt;Do  tác dụng làm co giảm cơ tim, từ lâu chẹn bêta được coi là chống chỉ  định trong điều trị suy tim tâm thu. Tuy nhiên các nghiên cứu từ cuối  thập niên 90 chứng minh một số chẹn bêta như Metoprolol succinate,  Carvedilol và Bisoprolol giảm tử vong (# 30%) và giảm tật bệnh bệnh nhân  suy tim nặng (10, 11, 12).&lt;br /&gt;Gần đây, nghiên cứu SENIORS chứng minh Nebivolol giảm tử vong trên người cao tuổi bị suy tim (13)&lt;br /&gt;&lt;em&gt;&lt;strong&gt;3.1. Phân độ suy tim&lt;/strong&gt;&lt;/em&gt;&lt;br /&gt;Cần  phân biệt giữa rối loạn chức năng tim và khả năng đáp ứng với gắng sức  của suy tim. Một bệnh nhân bệnh cơ tim dãn nở có thể có phân suất tống  máu (PSTM) khoảng 20% nhưng không khai là có triệu chứng cơ năng. Phân  độ chức năng của suy tim theo Hội Tim New York (NYHA) được sử dụng từ  lâu, dựa vào triệu chứng cơ năng và khả năng gắng sức (bảng 5). Mặc dù  phân độ này có nhược điểm là chủ quan, nhưng đơn giản và tiện dụng nên  được chấp nhận và phổ biến nhất.&lt;br /&gt;Suy tim là một hội chứng của nhiều  bệnh lý khác nhau, có thể tiến triển không ngừng. Điều trị suy tim cũng  thay đổi theo giai đoạn tiến triển của bệnh. Do đó từ năm 2001, Hunt SA  và c/s phân suy tim ra nhiều giai đoạn: A, B, C và D. Giai đoạn A bao  gồm những bệnh nhân có nguy cơ suy tim (TD: THA, đái tháo đường, hội  chứng chuyển hoá…)nhưng chưa có tổn thương thực thể trên tim và chưa có  triệu chứng cơ năng suy tim. Giai đoạn B là mức tiến triễn của GĐ A,  bệnh nhân đã có tổn thương thực thể của tim nhưng chưa có triệu chứng cơ  năng hay triệu chứng thực thể của suy tim. Giai đoạn C nặng hơn, bệnh  nhân có tổn thương thực thể tim, hiện tại hay tiền sử có triệu chứng cơ  năng suy tim. Giai đoạn D là nặng nhất, suy tim kháng trị, khó thở khi  nghỉ dù uống thuốc tối đa, cần những biện pháp điều trị đặc biệt như máy  trợ tim, ghép tim...&lt;/div&gt; &lt;div style="text-align: center;"&gt;&lt;a rel="rokbox[1055 726]" title="Beta-h6.jpg" href="http://timmachhoc.vn/images/stories/tongquantimmach/Beta-h6.jpg" target="_blank"&gt;&lt;img alt="Beta-h6" src="http://timmachhoc.vn/images/stories/tongquantimmach/Beta-h6.jpg" width="500" height="344" /&gt;&lt;/a&gt;&lt;/div&gt; &lt;div style="text-align: center;"&gt;&lt;span style="color: rgb(51, 102, 255);"&gt;Bảng  4: Tổng quan về các phân tích gộp chính yếu dựa vào các nghiên cứu phân  phối ngẫu nhiên  có kiểm chứng trên bệnh nhân THA điều trị bằng chẹn  bêta (TL 6)&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;/div&gt; &lt;div style="text-align: center;"&gt;&lt;br /&gt;&lt;/div&gt; &lt;div style="text-align: justify;"&gt;&lt;em&gt;&lt;strong&gt;3.2. Điều trị suy tim:&lt;/strong&gt;&lt;/em&gt;&lt;/div&gt; &lt;div style="text-align: center;"&gt;&lt;strong&gt;Bảng 5: Phân độ chức năng suy tim theo NYHA&lt;/strong&gt;&lt;/div&gt; &lt;div style="text-align: justify;"&gt; &lt;table style="border-collapse: collapse; width: 100%; text-align: center;" border="1" cellpadding="5"&gt; &lt;tbody style="text-align: left;"&gt; &lt;tr style="text-align: left;"&gt; &lt;td style="text-align: left;"&gt;Độ I:    Không hạn chế – Vận động thể lực thông thường không gây mệt, khó thở hoặc hồi hộp.&lt;br /&gt;Độ  II:     Hạn chế nhẹ vận động thể lực. Bệnh nhân khoẻ khi nghỉ ngơi. Vận  động thể   lực thông thường dẫn đến mệt, hồi hộp, khó thở hoặc đau  ngực.&lt;br /&gt;Độ III:     Hạn chế nhiều vận động thể lực. Mặc dù bệnh nhân  khoẻ khi nghỉ ngơi, nhưng chỉ vận động nhẹ đã có triệu chứng cơ năng.&lt;br /&gt;Độ  IV:     Không vận động thể lực nào mà không gây khó chịu. Triệu chứng  cơ  năng của suy tim xảy ra ngay khi nghỉ ngơi. Chỉ một vận động thể  lực, triệu chứng cơ năng gia tăng.&lt;/td&gt; &lt;/tr&gt; &lt;/tbody&gt; &lt;/table&gt; &lt;/div&gt; &lt;div style="text-align: justify;"&gt;&lt;br /&gt;&lt;/div&gt; &lt;div style="text-align: center;"&gt;&lt;a rel="rokzoom[]" target="_blank" href="http://timmachhoc.vn/images/stories/tongquantimmach/Beta-h7.jpg"&gt;&lt;img alt="Beta-h7" src="http://timmachhoc.vn/images/stories/tongquantimmach/Beta-h7.jpg" width="500" height="608" /&gt;&lt;/a&gt;&lt;/div&gt; &lt;div style="text-align: center;"&gt;&lt;span style="color: rgb(51, 102, 255);"&gt;Bảng 6: Các giai đoạn trong sự tiến triển của suy tim cùng biện pháp điều trị&lt;/span&gt;&lt;/div&gt; &lt;div style="text-align: center;"&gt;&lt;br /&gt;&lt;/div&gt; &lt;div style="text-align: justify;"&gt;Có thể chia điều trị suy tim ra 4 mức độ tuỳ theo các giai đoạn A, B, C, D của suy tim:&lt;br /&gt;- Điều trị các bệnh nhân có nguy cơ cao dẫn đến suy tim (GĐ A). Td: THA, ĐTĐ, rối loạn lipid máu&lt;br /&gt;- Điều trị các bệnh nhân có bất thường thực thể hoặc tái cấu trúc tim, nhưng chưa có triệu chứng cơ năng suy tim (GĐ B)&lt;br /&gt;- Điều trị các bệnh nhân trước kia hay hiện có triệu chứng cơ năng suy tim (GĐ C)&lt;br /&gt;- Điều trị suy tim kháng trị (giai đoạn cuối của suy tim – GD D)&lt;/div&gt; &lt;div style="text-align: justify;"&gt;&lt;br /&gt;&lt;em&gt;&lt;strong&gt;3.2.1. Điều trị các bệnh nhân có nguy cơ cao suy tim (GĐ A)&lt;/strong&gt;&lt;/em&gt;&lt;br /&gt;Các bệnh lý nội khoa hoặc lối sống có nguy cơ cao dẫn đến suy tim bao gồm:&lt;br /&gt;- Bệnh THA&lt;br /&gt;- Rối loạn lipid máu&lt;br /&gt;- Đái tháo đường&lt;br /&gt;- Loạn nhịp nhanh&lt;br /&gt;- Bệnh tuyến giáp: cường giáp hoặc suy giáp&lt;br /&gt;- Nghiện thuốc, nghiện rượu, nghiện ma tuý.&lt;br /&gt;THA  tâm thu hay tâm trương đều dẫn đến suy tim (15) (16). Kiểm soát tốt  huyết áp sẽ giảm 50% nguy cơ suy tim (17). Mục tiêu huyết áp cần đạt là  &lt;&gt; 2 loại thuốc hạ áp để đạt mục  tiêu điều trị. Các thuốc như ức chế calci hoặc chẹn chọn lọc alpha 1,  nếu sử dụng đơn độc ít có hiệu quả phòng suy tim hơn lợi tiểu và ức chế  men chuyển (19).&lt;br /&gt;Béo phì và đề kháng insulin là 2 yếu tố nguy cơ quan  trọng của suy tim (20). Bệnh nhân ĐTĐ bị tăng nguy cơ suy tim dù không  tổn thương thực thể tim (21). Điều trị lâu dài bệnh nhân ĐTĐ bằng ức chế  men chuyển hay chẹn thụ thể angiotensin II ngăn ngừa được biến chứng  thận, nhồi máu cơ tim và suy tim (22, 23).&lt;br /&gt;Các thuốc tim mạch sử dụng trong mọi giai đoạn của suy tim được tóm tắt trong bảng 6&lt;br /&gt;Chỉ định loại I:&lt;br /&gt;-  Các bệnh nhân có nguy cơ cao suy tim (THA, rối loạn lipid máu, đái tháo  đường) cần được điều trị theo đúng các mục tiêu của khuyến cáo liên  quan.&lt;br /&gt;- Bệnh nhân có nguy cơ cao suy tim, cần được khuyên tránh các chất làm tăng suy tim. Td: thuốc lá, uống rượu quá mức, ma túy.&lt;br /&gt;- Nhịp thất cần được kiểm soát hoặc phục hồi nhịp xoang trên bệnh nhân có nhịp nhanh trên thất.&lt;br /&gt;- Điều trị bệnh lý tuyến giáp theo đúng các khuyến cáo.&lt;br /&gt;-  Thầy thuốc cần chỉ định cận lâm sàng không xâm nhập (td: đo PXTM bằng  siêu âm tim) trên người bệnh có tiền sử gia đình bị bệnh cơ tim hoặc  trên người sử dụng dược chất độc cho tim.&lt;br /&gt;Chỉ định loại IIa:&lt;br /&gt;- Ức  chế men chuyển (UCMC) có thể hữu ích phòng ngừa suy tim trên bệnh nhân  có tiền sử bệnh do xơ vữa động mạch hoặc đái tháo đường hoặc THA có kèm  yếu tố nguy cơ tim mạch.&lt;br /&gt;Chẹn thụ thể angiotensin II có thể có hiệu quả tương tự UCMC, mặc dù mức chứng cớ kém hơn.&lt;/div&gt; &lt;div style="text-align: justify;"&gt;&lt;br /&gt;&lt;em&gt;&lt;strong&gt;3.2.2. Điều trị bệnh nhân có tổn thương thực thể tim nhưng chưa có triệu chứng cơ năng suy tim (GĐ B)&lt;/strong&gt;&lt;/em&gt;&lt;br /&gt;Tổn  thương thực thể tim có thể là bệnh van tim, bệnh ĐMV, phân xuất tống  máu giảm &lt; 45% chưa rõ nguyên nhân (bệnh cơ tim dãn nở vô căn), dầy  thất trái do THA. Các biện pháp điều trị bệnh nhân giai đoạn này được  tóm tắt trong bảng 8.&lt;br /&gt;Tất cả bệnh nhân NMCT cấp dù không có triệu  chứng cơ năng suy tim cần được sử dụng chẹn bêta và ức chế men chuyển,  theo khuyến cáo của điều trị NMCT cấp có ST chênh lên (24). Trường hợp  không dung nạp được UCMC có thể thay thế bằng chẹn thụ thể angiotensin  II.&lt;br /&gt;Nghiên cứu MADIT II đã chứng minh đặt ICD có lợi ở bệnh nhân bệnh  cơ tim thiếu máu cục bộ có PXTM &lt; 30% dù không triệu chứng cơ năng  (25)&lt;br /&gt;Chỉ định nhóm I&lt;br /&gt;- Tất cả các biện pháp của giai đoạn A cần được áp dụng cho bệnh nhân có tổn thương thực thể tim dù chưa triệu chứng cơ năng.&lt;br /&gt;- Chẹn bêta và UCMC: mọi bệnh nhân sau NMCT bất kể PXTM hay triệu chứng cơ năng của suy tim.&lt;br /&gt;- Chẹn bêta và UCMC: mọi bệnh nhân giảm PXTM dù không có tiền sử NMCT và không suy tim.&lt;br /&gt;-  Chẹn thụ thể angiotensin II: mọi bệnh nhân sau NMCT có PXTM giảm, dù  không suy tim, các bệnh nhân này không dung nạp được UCMC.&lt;/div&gt; &lt;div style="text-align: center;"&gt;&lt;strong&gt;Bảng 7: Thuốc tim mạch trong mọi giai đoạn của suy tim&lt;/strong&gt;&lt;/div&gt; &lt;div style="text-align: center;"&gt;&lt;a rel="rokbox[995 2110]" target="_blank" href="http://timmachhoc.vn/images/stories/tongquantimmach/Beta-h8.jpg"&gt;&lt;img alt="Beta-h8" src="http://timmachhoc.vn/images/stories/tongquantimmach/Beta-h8.jpg" width="500" height="1060" /&gt;&lt;/a&gt;&lt;/div&gt; &lt;div style="text-align: center;"&gt;&lt;br /&gt;&lt;/div&gt; &lt;div style="text-align: center;"&gt;&lt;strong&gt;Bảng 8: Biện pháp điều trị bệnh nhân có tổn thương thực thể nhưng chưa có triệu chứng cơ năng suy tim.&lt;/strong&gt;&lt;/div&gt; &lt;div style="text-align: center;"&gt; &lt;table style="border-collapse: collapse; text-align: justify;" border="1" cellpadding="5"&gt; &lt;tbody style="text-align: left;"&gt; &lt;tr style="text-align: left;"&gt; &lt;td style="text-align: left;"&gt;- Tất cả các biện pháp áp dụng trong GĐ A&lt;br /&gt;- Chẹn bêta và ức chế men chuyển: mọi bệnh nhân sau NMCT bất kể PXTM&lt;br /&gt;- Chẹn bêta và ức chế men chuyển hoặc chẹn thụ thể angiotensin II: mọi bệnh nhân có PXTM giảm&lt;br /&gt;- Tái lưu thông ĐMV&lt;br /&gt;- Phẫu thuật sửa van hay thay van&lt;br /&gt;- Ức chế men chuyển cho mọi bệnh nhân THA kèm dầy thất trái&lt;br /&gt;-  Đặt máy tạo nhịp phá rung (ICD) cho bệnh nhân BCT TMCB có PXTM &lt;&gt; &lt;/tr&gt; &lt;/tbody&gt; &lt;/table&gt; &lt;/div&gt; &lt;div style="text-align: center;"&gt;&lt;br /&gt;&lt;/div&gt; &lt;div style="text-align: justify;"&gt;- Tái lưu thông động mạch vành (ĐMV): chỉ định theo đúng khuyến cáo dù không triệu chứng suy tim.&lt;br /&gt;- Sửa van hay thay van: theo đúng chỉ định dù không triệu chứng suy tim.&lt;br /&gt;Chỉ định nhóm IIa&lt;br /&gt;- UCMC hoặc chẹn thụ thể angiotensin II: có thể có lợi ở bệnh nhân THA kèm dầy thất trái và không triệu chứng cơ năng suy tim.&lt;br /&gt;-  Chẹn thụ thể angiotensin II: có thể có lợi ở bệnh nhân PXTM thấp và  không triệu chứng suy tim, khi các bệnh nhân này không dung nạp được  UCMC.&lt;br /&gt;- Đặt máy chuyển nhịp phá rung trên bệnh nhân BCT/TMCB có ít  nhất 40 ngày sau NMCT cấp, PXTM &lt; 30%, NYHA I dưới điều trị nội tối  đa và có hy vọng sống trên 1 năm.&lt;br /&gt;Chỉ định nhóm IIb&lt;br /&gt;- Đặt ICD cho bệnh nhân BCT không TMCB có PXTM &lt;&gt; 1 năm&lt;br /&gt;Chỉ định nhóm III&lt;br /&gt;- Không sử dụng digoxin cho bệnh nhân có PXTM thấp, nhịp xoang mà không có triệu chứng suy tim.&lt;br /&gt;Ức chế calci, loại giảm co cơ tim, có thể có hại ở bệnh nhân sau NMCT có PXTM thấp và không triệu chứng suy tim.&lt;/div&gt; &lt;div style="text-align: justify;"&gt;&lt;br /&gt;&lt;em&gt;&lt;strong&gt;3.2.3. Điều trị bệnh nhân suy tim, trước kia hoặc hiện tại có triệu chứng cơ năng (GĐ C)&lt;/strong&gt;&lt;/em&gt;&lt;br /&gt;Bảng  10nêu lên các biện pháp điều trị bệnh nhân suy tim nặng (GĐ C). Các  biện pháp này cần được sử dụng đúng chỉ định và phối hợp cẩn thận để  tránh làm nặng suy tim hoặc bệnh nhân bỏ điều trị vì tác dụng phụ.&lt;br /&gt;Chỉ định nhóm III&lt;br /&gt;- Không nên phối hợp thường qui UCMC, chẹn thụ thể angiotensin II với thuốc đối kháng aldosterone.&lt;br /&gt;- Không nên dùng thường qui ức chế calci&lt;br /&gt;- Truyền lâu dài thuốc tăng co cơ tim có thể có hại, ngoại trừ khi bệnh nhân bị suy tim giai đoạn cuối.&lt;br /&gt;- Điều trị bằng hormone có thể có hại, ngoại trừ trường hợp dùng hormone thay thế.&lt;/div&gt; &lt;div style="text-align: justify;"&gt;&lt;br /&gt;&lt;strong&gt;3.3 Các nghiên cứu chứng minh hiệu quả của chẹn bêta trong điều trị suy tim&lt;/strong&gt;&lt;br /&gt;&lt;em&gt;&lt;strong&gt;3.3.1. Các thuốc chẹn bêta&lt;/strong&gt;&lt;/em&gt;&lt;br /&gt;Trong  thập niên 70, Waagstein và c/s đã báo cáo về khả năng của Metoprolol,  Alprenolol và Practolol trong cải thiện triệu chứng cơ năng và chức năng  thất ở bệnh nhân suy tim do bệnh cơ tim dãn (26).&lt;br /&gt;Nghiên cứu MDC  (27) (Metoprolol in Dilated Cardiomyopathy) cho thấy Metoprolol giúp  giảm tử vong và giảm chỉ định ghép tim ở bệnh nhân bệnh cơ tim dãn.&lt;br /&gt;Nghiên  cứu của Packer và c/s về Carvedilol (28) cho thấy nhóm có Carvedilol  (một chẹn bêta có tính dãn mạch) giảm tử vong 65%, giảm nhập viện 27%,  giảm phối hợp tử vong và nhập viện 38% so với nhóm Placebo. Ngoài ra  nhóm Carvedilol tiến đến suy tim nặng ít hơn nhóm Placebo. Cả hai nhóm  đều có thuốc cơ bản là Digoxin, lợi tiểu và ức chế men chuyển.&lt;br /&gt;Nghiên  cứu COPERNICUS cho thấy Carvedilol có thể sử dụng trong suy tim độ IV.  Thực hiện trên 2000 bệnh nhân theo dõi gần 3 năm, n/c COPERNICUS cho  thấy nhóm có Carvedilol giảm 35% tử vong so với nhóm chứng (29).&lt;br /&gt;Nghiên cứu CIBIS II thực hiện trên 2647 bệnh nhân suy tim độ III hoặc IV ; nguyên nhân&lt;/div&gt; &lt;div style="text-align: justify;"&gt;&lt;strong&gt;Bảng 9: Các thuốc ức chế hệ renin – angiotensin – aldosterone và thuốc chẹn bêta thường sử dụng điều trị suy tim có PXTM thấp&lt;/strong&gt;&lt;/div&gt; &lt;p style="text-align: center;"&gt;&lt;a rel="rokbox[633 841]" target="_blank" href="http://timmachhoc.vn/images/stories/tongquantimmach/Beta-h9.jpg"&gt;&lt;img alt="Beta-h9" src="http://timmachhoc.vn/images/stories/tongquantimmach/Beta-h9.jpg" width="500" height="664" /&gt;&lt;/a&gt;&lt;/p&gt; &lt;p style="text-align: center;"&gt; &lt;/p&gt; &lt;p style="text-align: center;"&gt;&lt;strong&gt;Bảng 10. Biện pháp điều trị suy tim, trước kia hoặc hiện tại có triệu chứng cơ năng (GĐ C)&lt;/strong&gt;&lt;/p&gt; &lt;table style="border-collapse: collapse; width: 100%; text-align: justify;" border="1" cellpadding="5"&gt; &lt;tbody style="text-align: left;"&gt; &lt;tr style="text-align: left;"&gt; &lt;td style="text-align: left;"&gt;- Tất cả các biện pháp của giai đoạn A và B&lt;br /&gt;- Lợi tiểu và hạn chế muối: khi có dấu ứ dịch (loại I)&lt;br /&gt;- Chẹn bêta (bisoprolol, carvedilol, metoprolol succinate): mọi trường hợp ngoại trừ chống chỉ định (loại I)&lt;br /&gt;- UCMC, chẹn thụ thể angiotensin II đơn độc hoặc phối hợp (loại I)&lt;br /&gt;- Digitalis (loại IIa)&lt;br /&gt;- Tránh thuốc chống loạn nhịp, kháng viêm không steroid hoặc ức chế COX –2, ức chế calci (loại I)&lt;br /&gt;- Phối hợp UCMC, chẹn bêta với hydralazine kèm nitrates (loại IIa)&lt;br /&gt;- Luyện tập thể lực theo chương trình (loại I)&lt;br /&gt;- Thuốc đối kháng aldosterone: spironolactone, eplerenone (loại I)&lt;br /&gt;- Tái đồng bộ thất: tạo nhịp 2 buồng thất (loại I)&lt;br /&gt;- Tạo nhịp phá rung cấy được (ICD) (loại I)&lt;/td&gt; &lt;/tr&gt; &lt;/tbody&gt; &lt;/table&gt; &lt;p style="text-align: center;"&gt; &lt;/p&gt; &lt;p style="text-align: center;"&gt;&lt;a rel="rokbox[555 349]" target="_blank" href="http://timmachhoc.vn/images/stories/tongquantimmach/Beta-h10.jpg"&gt;&lt;img alt="Beta-h10" src="http://timmachhoc.vn/images/stories/tongquantimmach/Beta-h10.jpg" width="500" height="314" /&gt;&lt;/a&gt;&lt;/p&gt; &lt;p style="text-align: center;"&gt;&lt;em&gt;&lt;span style="color: rgb(51, 102, 255);"&gt;Hình 3 : A : Sống còn của bệnh nhân trong nghiên cứu CIBIS II.&lt;br /&gt;B : Hiệu quả điều trị tương đối tùy theo nguyên nhân hoặc độ nặng suy tim&lt;/span&gt;&lt;/em&gt;&lt;/p&gt; &lt;p style="text-align: justify;"&gt;suy tim có thể là thiếu máu cục bộ hay  không thiếu máu cục bộ. Sau 18 tháng, nhóm Bisoprolol giảm tử vong do  mọi nguyên nhân 32% (p &lt; 0,001), giảm đột tử 44% (30).&lt;br /&gt;Các thuốc  chẹn bêta đã được sử dụng trong điều trị suy tim gồm có :  Metoprolol,  Bisoprolol, Carvedilol. Cần chú ý là liều khởi đầu phải thấp. Với  Metoprolol liều khởi đầu là 5mg/ ngày, tăng dần trong vòng 7 tuần để đạt  đến liều 100 mg/ ngày, với Carvedilol, liều khởi đầu là 6,25 mg 2 lần  ngày, tăng dần trong 6 tuần để đạt đến liều cao nhất là 50 mg/ ngày.  Liều khởi đầu của Bisoprolol là 1,25 mg/1 lần/ngày tăng liều sau mỗi 2  tuần hoặc 4 tuần, liều tối đa là 10 mg/ngày.&lt;br /&gt;Do lợi điểm cao (kéo dài  đời sống) của chẹn bêta, cần chú ý sử dụng chẹn bêta cho mọi bệnh nhân  suy tim và/hoặc rối loạn chức năng thất trái. Ngay cả khi bệnh nhân đã  ổn định với các thuốc khác cũng nên sử dụng chẹn bêta.&lt;br /&gt;Nebivolol  (NODONR) là thuốc chẹn bêta có tính dãn mạch mới, đã được chứng minh có  hiệu quả trong điều trị suy tim. Tính dãn mạch của nebivolol do tác dụng  phóng thích nitric axid (NO) qua cơ chế thụ thể bêta 2 giao cảm (14).  Nghiên cứu SENIORS (13) thực hiện trên 2128 bệnh nhân cao tuổi ³ 70 tuổi  có bệnh sử suy tim (nhập viện vì suy tim trong năm trước hoặc phân suất  tống máu £ 35%). Có 1067 bệnh nhân thuộc nhóm nebivolol (liều lượng từ  thấp 1,25 mg/ ngày đến cao 10mg/ngày) và 1061 bệnh nhân nhóm placebo, cả  hai nhóm đều được điều trị thuốc cơ bản suy tim: lợi tiểu, UCMC, chẹn  thụ thể angiotensin II, đối kháng aldosterol, digoxin, giảm lipid máu,  aspirin hoặc thuốc chống vitamin K. Tiêu chí chính là tử vong do mọi  nguyên nhân hoặc nhập viện vì tim mạch. Theo dõi trung bình 21 tháng.  Tiêu chí chính xảy ra trên 332 bệnh nhân (31,1 %) nhóm bebivilol và 375  bệnh nhân (35,3%) nhóm placebo (p = 0,039). Không khác biệt có ý nghĩa  về ảnh hưởng của tuổi, giới tính và phân suất tống máu trên hiệu quả  điều trị của nebivolol. Như vậy nebivolol là chẹn bêta có hiệu quả và  dung nạp tốt trên người cao tuổi.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;strong&gt;4. Kết luận:&lt;/strong&gt;&lt;br /&gt;Trong  điều trị THA, quan điểm sử dụng chẹn bêta có thay đổi. Đối với THA tiên  phát chỉ nên sử dụng khi có phối hợp với thuốc nhóm khác. Trong một số  trường hợp có chỉ định bắt buộc (TD: THA kèm suy tim, THA kèm tình trạng  sau NMCT, THA kèm BĐMV mạn…) có vai trò của chẹn bêta.&lt;br /&gt;Các chẹn bêta  như metoprolol succinate, carvedilol, bisoprolol và Nebivolol đã được  nhiều nghiên cứu khoa học chứng minh hiệu quả giảm tử vong và tật bệnh  trong điều trị suy tim. Thuốc được dùng trong các giai đoạn B, C và D  của suy tim.&lt;br /&gt;&lt;strong&gt;TLTK&lt;/strong&gt;&lt;br /&gt;1.    Berenson A, Big drug makers see sales decline with their image. New York  Times, New York, 2005&lt;br /&gt;2.     Swedberg K, Cleland J, Dargie H et al. ESC Guidelines for the diagusis  and treatment of chronic heart failure: executive summary (update 2005)  Eur , H, J (2005) 26, 1115-1140&lt;br /&gt;3.    Opie L H, Drugs for the Heart. Elsevier Saunders 2005, 6 th ed, p 21&lt;br /&gt;4.     Chobanian AU et al. The seventh report of the Joint National Committee  on Prevention, Detection, Evaluation and Treatment of High Blood  Pressure the JNC 7 report. JAMA 2003; 289: 2560 – 2572&lt;br /&gt;5.    European  society of Hypertension. European society of Cardiology Guidelines  committee 2003 Guidelines for the management of arterial hypertension. J  Hyperteus 2003; 21: 1011-1053&lt;br /&gt;6.    Bangalore S, Messerli F H,  Kostis JB et al cardiovascular protection using beta blockers : a  critical review of the eviden . J Am Coll Cardiol 2007; 50: 563 – 572&lt;br /&gt;7.     Dablof B, Lindholm LH, Hansson L et al. Merbidity and mortality in the  Sevedish Trial in old Patients with Hypertension. (STOP – Hypertension).  Lancet 1991; 338: 1281-1285&lt;br /&gt;8.    Dablof B, Devereux RB, Kjeldsen SE  et at. Cardiovascular morbidity and mortality in the Losartan  Intervension Fn Endpoint reduction in hypertensions study (LIFE):a  randomized trial against atenolol. Lancet 2002; 359: 995-1002.&lt;br /&gt;9.     Elliott W J, Meyer PM. Incident diabetes in clinical trial of  antihypertensive drugs: a network meta- analysis. Lancet 2007; 369: 201 –  207&lt;br /&gt;10.    CIBIS II Investigators and committees The Cardiac  Insufficcency Bisoprolol study II (CIBIS II): a randomized trial. Lancet  1999; 353: 9-13&lt;br /&gt;11.    Effect of metoprolol CR/XL in chronic heart  failure: Metoprolol CR/ XL Randomized Intervention Trial in Congestive  Heart Failure (MERIT – HF). Lancet 1999; 353:2001-2007&lt;br /&gt;12.    Packer  M, Fowler MB, Roecker EB et al. Effect of carvedilol on the morbidity of  patients with severe chronie heart failure: results of the carvedilol  prospective  randomized cumulative senvival (COPGRNICUS) study,  circulation 2002; 106: 2194- 2199&lt;br /&gt;13.    Flather MD, Shibata MC,  Coats AJ et al. Randomized trial to determine the effect of nebivolol on  mortality and cardio vascular hospital admission in elderly patients  with heart failure (SENIORS). Eur Heart J 2005; 26: 215 – 225&lt;br /&gt;14.     Mc Eniery CM, Schmitt M, Qasem A et al. Nebivolol Increases Arterial  Distensibility in Vivo. Hypertension 2004; 44: 305 – 310&lt;br /&gt;15.    Levy  D, Larson MG, Vasan RS et al. The progression from hypertension to  congestive heart failure. JAMA 1996; 275: 1557 – 1562&lt;br /&gt;16.     Wilhelmsen L, Rosengren A, Eriksson H et al. Heart failure in the  general population of men: morbidity, risk factors and prognosis. J  Intern Med 2001; 243: 253 – 261&lt;br /&gt;17.    Baker DW. Prevention of heart failure. J Card. Fail 2002; 8: 333 – 346&lt;br /&gt;18.     Chobanian AV, Bakris GL, Black HR et al. Seventh report of the Joint  National Comittee on Prevention, Detection, Evaluation and Treatment of  High Blood Pressure. Hypertension 42:1206,2003&lt;br /&gt;19.    The ALLHAT  Investigators. Major outcomes in high – risk hypertensive patients  randomized to angiotension – converting enzyme inhibitor or calcium  channel blocker vs diuretic. The ALLHAT study. JAMA 2002; 288: 2981 –  2997&lt;br /&gt;20.    Kenchainh S, Evans JC, Levy D et al. Obesity and the risk of heart failure. N Engl J Med 2002; 347: 305 – 313&lt;br /&gt;21.     He J, Ogden LG, Bazzano LA et al. Risk factors for congestive heart  failure in US men and women. NHANES I epidemiologic follow – up study.  Arch Intern Med 2001; 161: 996 – 1002&lt;br /&gt;22.    Yusuf S, Sleight P,  Pogue J et al (the HOPE Investigators). Effects of an angiotensin  coverting enzyme inhibitor ramipril, on cardiovascular events in high  risk patients. N Engl J Med 2000; 342: 145 – 153&lt;br /&gt;23.    Brenner BM,  Cooper ME, de Zeeuw D et al. Effects of losartan on renal and  cardiovascular outcomes in patients with type 2 diabetes and  nephropathy. N Engl J Med 2001; 345: 861 – 869&lt;br /&gt;24.    Antman AM et  al. ACC/AHA Guidelines for the management of patients with ST –  elevation myocardial infarction. J Am Coll Cardiol 2004; 44: E1 – E211&lt;br /&gt;25.     Moss AJ, Zareba W, Hall WJ et al. Prophylactic implantation of a  defibrillator in patients with myocardial infarction and reduced  ejection fraction. N Engl J Med 2002; 346: 877&lt;br /&gt;26.    Waagstein F,  Hjalmarson A, Varnauskas E et al : Effect of chronic bete-adrenergic  receptor blockade in congestive cardiomyopathy . Br. Heart J 1975; 37 :  1022&lt;br /&gt;27.    Waagstein F , Bristow MR , Swedbarg K et al : Beneficial  effects of Metoprolol in idiopathic dilated cardiomyopathy. Lancet  1993; 342 : 1441&lt;br /&gt;28.    Packer M, Bristow MR , Coln JN et al :  The  effect of carvedilol on morbidity and mortality in patients with chronic  heart failure. N Engl J Med 1996; 334 (21) :  1349 - 55&lt;br /&gt;29.     Packer M, Coats AJS, Fowler MB et al : Effect of carvedilol on survival  in severe chronic heart failure. N. Engl J Med 2001; 344 : 1651 – 1657&lt;br /&gt;The Cardiac Insufficiency Bisoprolol Study II (CIBIS II) : A randomnized trial. Lancet; 1999; 353 : 9-13&lt;/p&gt;&lt;p style="text-align: justify;"&gt;theo timmachhoc.vn&lt;br /&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;-----------------------------------&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Giảng Đường Y Khoa&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;a href="http://giangduongykhoa.blogspot.com/"&gt;http://giangduongykhoa.blogspot.com&lt;/a&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;a href="http://giangduongykhoa.net/"&gt;http://giangduongykhoa.net&lt;/a&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;-----------------------------------&lt;/p&gt;&lt;div class="blogger-post-footer"&gt;Giảng Đường Y Khoa - Nơi Hội Tụ Kiến Thức Y Khoa&lt;img width='1' height='1' src='https://blogger.googleusercontent.com/tracker/8347068896071358659-2770056785534035391?l=giangduongykhoa.blogspot.com' alt='' /&gt;&lt;/div&gt;</content><link rel='replies' type='application/atom+xml' href='http://giangduongykhoa.blogspot.com/feeds/2770056785534035391/comments/default' title='Đăng Nhận xét'/><link rel='replies' type='text/html' href='http://giangduongykhoa.blogspot.com/2010/12/su-dung-thuoc-chen-beta-trong-suy-tim.html#comment-form' title='0 Nhận xét'/><link rel='edit' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/8347068896071358659/posts/default/2770056785534035391'/><link rel='self' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/8347068896071358659/posts/default/2770056785534035391'/><link rel='alternate' type='text/html' href='http://giangduongykhoa.blogspot.com/2010/12/su-dung-thuoc-chen-beta-trong-suy-tim.html' title='Sử dụng thuốc chẹn Bêta trong suy tim và tăng huyết áp: Các chứng cứ khoa học'/><author><name>Giảng Đường Y Khoa</name><uri>http://www.blogger.com/profile/01045762399869292181</uri><email>noreply@blogger.com</email><gd:image rel='http://schemas.google.com/g/2005#thumbnail' width='32' height='32' src='http://1.bp.blogspot.com/_iO0u_-8tJ8E/S95LXKfU_tI/AAAAAAAAAcY/p80KgeQ8pf0/S220/logo-1.png'/></author><thr:total>0</thr:total></entry><entry><id>tag:blogger.com,1999:blog-8347068896071358659.post-2004407290013993359</id><published>2010-12-22T05:34:00.000-08:00</published><updated>2010-12-22T05:34:01.045-08:00</updated><category scheme='http://www.blogger.com/atom/ns#' term='Nội Khoa - tim mạch'/><title type='text'>Viêm nội tâm mạc nhiễm trùng do cầu khuẩn Gram dương kháng thuốc</title><content type='html'>&lt;p&gt;&lt;/p&gt;&lt;div style="text-align: justify;"&gt;&lt;strong&gt;Những thay đổi gần đây về mặt dịch tễ học của viêm nội tâm mạc nhiễm  trùng&lt;/strong&gt;&lt;/div&gt; &lt;div style="text-align: justify;"&gt;&lt;br /&gt;&lt;div style="text-align: justify;"&gt;Hiện  nay y giới đang chứng kiến một  sự thay đổi diện mạo của viêm nội tâm mạc  nhiễm trùng (VNTMNT) tại các  quốc gia Âu Mỹ. Cho đến cuối thập niên  1970, bệnh van tim hậu thấp và  bệnh tim bẩm sinh tím là 2 nhóm bệnh tim  nền thường gặp nhất ở những  bệnh nhân VNTMNT tại các quốc gia này. Sau đó các bệnh van tim hậu thấp  đã dần dần biến mất. Tuy nhiên bù lại có nhiều yếu tố tạo thuận lợi khác  xuất hiện và tăng nhanh như việc tiêm chích ma túy đường tĩnh mạch,  phẫu thuật thay van tim nhân tạo, bệnh van tim thoái hóa (ở người lớn  tuổi) và các thủ thuật xâm nhập có nguy cơ gây du khuẩn huyết. Các thay  đổi này đưa đến một số hậu quả như sau : (1) Tần suất mắc phải VNTMNT  không giảm ; (2) VNTMNT trở nên đa dạng hơn về cơ địa nền ; và (3) Diện  mạo vi sinh học của VNTMNT có một số khác biệt so với trước đây 1.&lt;/div&gt; &lt;/div&gt; &lt;br /&gt;&lt;div style="text-align: justify;"&gt;Trước đây dựa vào cơ địa nền, VNTMNT  thường được phân thành 2 dạng là VNTMNT trên van nguyên gốc (native  valve endocarditis) và VNTMNT trên van nhân tạo (prosthetic valve  endocarditis). Ngày nay cách phân loại này không còn phù hợp. Hiện nay  đa số tác giả đề nghị chia VNTMNT thành 4 dạng là VNTMNT trên van nguyên  gốc, VNTMNT trên van nhân tạo, VNTMNT ở người tiêm chích tĩnh mạch  (endocarditis in intravenous drug users) và VNTMNT liên quan với chăm  sóc y tế (healthcare-related endocarditis) &lt;sup&gt;1,2&lt;/sup&gt;. Cụm từ “liên  quan với chăm sóc y tế” có ý nghĩa rộng hơn là “mắc phải trong bệnh  viện” (nosocomial). VNTMNT liên quan với chăm sóc y tế bao gồm cả những  trường hợp VNTMNT xuất hiện ở người được chăm sóc y tế ngoại trú, ví dụ :  (1) đã từng được truyền dịch, chăm sóc vết thương, vết mổ hoặc chăm sóc  điều dưỡng đặc biệt tại nhà trong vòng 30 ngày trước khi bắt đầu có  triệu chứng VNTMNT ; (2) đã từng đến một bệnh viện hoặc một đơn vị thận  nhân tạo hoặc đã từng được hóa trị liệu đường tĩnh mạch trong vòng 30  ngày trước khi bắt đầu có triệu chứng VNTMNT ; (3) đã từng nhập viện ít  nhất 2 ngày trong vòng 90 ngày trước khi bắt đầu có triệu chứng VNTMNT ;  hoặc (4) đang sống trong một trại điều dưỡng 3.&lt;br /&gt;&lt;/div&gt; &lt;div style="text-align: justify;"&gt;Về mặt vi sinh học, các nghiên cứu gần  đây cho thấy cầu khuẩn Gram dương vẫn là những tác nhân gây bệnh chính  (hơn 80% các trường hợp VNTMNT) 2. Tuy nhiên đã có một sự thay đổi vị  trí giữa tụ cầu khuẩn (staphylococcus) và liên cầu khuẩn  (streptococcus). Nếu như trước đây liên cầu khuẩn luôn đứng hàng đầu  trong số các tác nhân gây VNTMNT, hiện nay vị trí này đang bị tranh chấp  bởi tụ cầu khuẩn. Hai tác giả Moreillon và Que tổng kết số liệu của 26  nghiên cứu được công bố từ 1993 đến 2003 mô tả 3784 đợt VNTMNT 2. Tổng  kết này cho thấy tụ cầu khuẩn, đặc biệt là tụ cầu khuẩn vàng, đứng đầu  trong số các tác nhân gây VNTMNT, kế đến là liên cầu khuẩn và đứng ở vị  trí thứ 3 là tràng cầu khuẩn (enterococcus) (hình 1). Tỉ lệ VNTMNT do tụ  cầu khuẩn vàng tương quan thuận chiều với tỉ lệ người tiêm chích tĩnh  mạch &lt;sup&gt;2&lt;/sup&gt;.&lt;/div&gt; &lt;div style="text-align: justify;"&gt;&lt;br /&gt;&lt;/div&gt; &lt;div style="text-align: justify;"&gt;Nhiều nhà nghiên cứu ở châu Á cũng ghi  nhận có một sự gia tăng tỉ lệ tụ cầu khuẩn trong số các tác nhân gây  VNTMNT. Một nghiên cứu trên 315 ca VNTMNT tại Đài Loan cho thấy trong số  các tác nhân gây bệnh, tụ cầu khuẩn chiếm tỉ lệ 32% và liên cầu khuẩn  chiếm tỉ lệ 24% 4. Còn theo báo cáo kết quả theo dõi 198 ca VNTMNT của  một nhóm tác giả Ấn Độ, tụ cầu khuẩn chiếm tỉ lệ 20% và liên cầu khuẩn  chiếm tỉ lệ 23% trong số các tác nhân gây bệnh &lt;sup&gt;5&lt;/sup&gt;.&lt;/div&gt; &lt;div style="text-align: justify;"&gt;&lt;br /&gt;&lt;/div&gt; &lt;div style="text-align: justify;"&gt;Sự thay đổi về diện mạo vi sinh học  cũng đã được ghi nhận riêng trong VNTMNT trên van nhân tạo. Theo các báo  cáo trước đây, tụ cầu khuẩn coagulase âm đứng hàng đầu trong số các tác  nhân gây VNTMNT trên van nhân tạo, kế đến mới là tụ cầu khuẩn vàng 6.  Kể từ tháng 6/2000 một nhóm nhà nghiên cứu từ 28 quốc gia (Hoa Kỳ, Nam  Mỹ, Bắc Âu, Trung Âu và Nam Âu, Trung Đông, Nam Phi, Úc và New Zealand)  đã phối hợp tiến hành một nghiên cứu đoàn hệ tiền cứu về VNTMNT mang tên  ICE-PCS (International Collaboration on Endocarditis-Prospective Cohort  Study) 7. Trong năm 2007 nhóm nghiên cứu này báo cáo kết quả theo dõi  556 ca VNTMNT trên van nhân tạo. Theo báo cáo này, tụ cầu khuẩn vàng là  tác nhân gây bệnh thường gặp nhất (tỉ lệ 23%), kế đến là tụ cầu khuẩn  coagulase âm (tỉ lệ 16,9%) &lt;sup&gt;3&lt;/sup&gt;.&lt;/div&gt; &lt;div style="text-align: justify;"&gt;&lt;br /&gt;&lt;/div&gt; Có một hiện tượng rất đáng ngại đang diễn ra là sự gia tăng tỉ lệ các vi  khuẩn kháng thuốc trong số các tác nhân gây VNTMNT. VNTMNT do cầu khuẩn  Gram dương kháng thuốc có khả năng sẽ trở thành một thách thức lớn đối  với y giới trong thế kỷ 21 &lt;sup&gt;8&lt;/sup&gt;.&lt;br /&gt;&lt;div style="text-align: center;"&gt;&lt;img style="vertical-align: top;" alt="Gram1" src="http://timmachhoc.vn/images/stories/tongquantimmach/Gram1.jpg" width="500" height="288" /&gt;&lt;/div&gt; &lt;div style="text-align: center;"&gt;&lt;span style="color: rgb(51, 102, 255);"&gt;Hình 1 : Tỉ lệ VNTMNT do các tác nhân gây bệnh khác nhau (số liệu từ 3784 đợt VNTMNT) &lt;sup&gt;2&lt;/sup&gt;.&lt;/span&gt;&lt;/div&gt; &lt;div style="text-align: center;"&gt;&lt;br /&gt;&lt;/div&gt; &lt;div style="text-align: justify;"&gt;&lt;strong&gt;Cầu khuẩn gram dương gây viêm nội tâm mạc nhiễm trùng&lt;/strong&gt;&lt;/div&gt; &lt;div style="text-align: justify;"&gt;&lt;br /&gt;1) Tụ cầu khuẩn : Dựa vào khả năng  tiết enzym coagulase (enzym làm đông huyết tương), tụ cầu khuẩn được  chia thành tụ cầu khuẩn coagulase dương (tức là tụ cầu khuẩn vàng –  Staphylococcus aureus) và tụ cầu khuẩn coagulase âm (gồm nhiều loài,  trong đó Staphylococcus epidermidis là tác nhân gây bệnh thường gặp  nhất) 9. Dựa theo tính nhạy với kháng sinh, tụ cầu khuẩn được chia thành  tụ cầu khuẩn nhạy meticillin và tụ cầu khuẩn kháng meticillin. Kháng  sinh nhóm penicillin nói riêng và họ -lactam nói chung tác động trên vi  khuẩn bằng cách bám vào và ức chế các protein gắn penicillin  (penicillin-binding protein – PBP) dẫn đến ức chế quá trình tổng hợp  peptidoglycan của thành vi khuẩn. Các chủng tụ cầu khuẩn nhạy meticillin  có 4 PBP đều bị ức chế bởi meticillin và các penicillin cùng phân nhóm  bền vững với -lactamase (oxacillin, dicloxacillin, nafcillin), các  cephalosporin và các carbapenem (imipenem, meropenem). Trong khi đó  chủng tụ cầu khuẩn kháng meticillin có một PBP biến thể được gọi là PBP 2  hay PBP 2a. PBP 2 không có ái lực với kháng sinh họ -lactam, do đó  chủng tụ cầu khuẩn kháng meticillin cũng đề kháng một cách tự nhiên với  tất cả kháng sinh họ -lactam (bao gồm nhóm penicillin, nhóm  cephalosporin và nhóm carbapenem). Trước đây tụ cầu khuẩn kháng  meticillin chỉ gặp ở những bệnh nhân VNTMNT trên van nhân tạo mắc phải  trong bệnh viện. Tuy nhiên hiện nay có một số nghiên cứu ở châu Á cho  thấy tụ cầu khuẩn kháng meticillin chiếm tỉ lệ 7,5-11% trong số các tác  nhân gây VNTMNT trên van nguyên gốc mắc phải trong cộng đồng &lt;sup&gt;4,10&lt;/sup&gt;.&lt;/div&gt; &lt;div style="text-align: justify;"&gt;&lt;br /&gt;Tụ cầu khuẩn kháng meticillin thường cũng đề kháng các kháng sinh nhóm aminoglycoside và fluoroquinolone.&lt;br /&gt;Đa  số tụ cầu khuẩn (kể cả các chủng kháng meticillin) vẫn còn nhạy với  kháng sinh nhóm glycopeptide (vancomycin, teicoplanin). Tuy nhiên gần  đây đã xuất hiện nhiều chủng Staphylococcus aureus có giảm độ nhạy với  vancomycin (nồng độ ức chế tối thiểu – NĐƯCTT trong khoảng 8-16 mg/l).  Một số nghiên cứu cho thấy nhiễm trùng do các chủng S. aureus “có độ  nhạy trung gian với vancomycin” này đáp ứng kém với điều trị bằng  vancomycin &lt;sup&gt;11,12&lt;/sup&gt;. Trong năm 2002 các nhà nghiên cứu ở Hoa Kỳ  đã phân lập được 2 chủng S. aureus đề kháng hoàn toàn với vancomycin  (một chủng có NĐƯCTT 32-64 mg/l và một chủng có NĐƯCTT &gt; 1000 mg/l) &lt;sup&gt;13,14&lt;/sup&gt;. May mắn là cho đến nay chưa thấy xuất hiện thêm những chủng tụ cầu khuẩn tương tự.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;strong&gt;2) Liên cầu khuẩn :&lt;/strong&gt;  Các chuyên gia vi sinh lâm sàng phân loại liên cầu khuẩn dựa vào tính  chất gây tán huyết, nhóm Lancefield, tên loài và tên thường dùng. Về  tính chất gây tán huyết khi được nuôi cấy trên môi trường thạch, có một  số liên cầu khuẩn tạo ra vùng tán huyết hoàn toàn quanh khúm vi khuẩn  (gọi là tán huyết ), một số liên cầu khuẩn tạo ra vùng tán huyết không  hoàn toàn có sắc xanh lá cây quanh khúm vi khuẩn (gọi là tán huyết , hay  còn gọi Streptococcus viridans, từ viridans có nghĩa là xanh lá cây) và  một số khác không gây tán huyết. Các liên cầu khuẩn tán huyết  còn có  thể phân thành nhiều nhóm khác nhau theo Lancefield (nhóm A, B, C …) dựa  vào phản ứng của các kháng huyết thanh đặc hiệu với các kháng thể  carbohydrate trên thành tế bào vi khuẩn. Trên bảng 1 là phân loại liên  cầu khuẩn và khả năng gây VNTMNT của từng nhóm liên cầu khuẩn 15.&lt;br /&gt;Đa  số liên cầu khuẩn nhạy với penicillin, tuy nhiên có một số chủng đã trở  nên ngày càng kháng penicillin và các kháng sinh khác họ -lactam. Cơ  chế của sự đề kháng penicillin là hiện tượng giảm ái lực của kháng sinh  với các protein gắn penicillin trên màng tế bào vi khuẩn 2. Liên cầu  khuẩn được gọi là kháng penicillin ở mức trung gian (hoặc có giảm độ  nhạy với penicillin) nếu NĐƯCTT trong khoảng 0,1-0,5 mg/l và kháng  penicillin ở mức cao nếu NĐƯCTT &gt; 0,5 mg/l. Đa số liên cầu khuẩn  kháng penicillin ở mức cao vẫn còn đáp ứng tốt với vancomycin &lt;sup&gt;2&lt;/sup&gt;.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;div style="text-align: center;"&gt;&lt;strong&gt;Bảng 1 : Phân loại liên cầu khuẩn 15. &lt;/strong&gt;&lt;br /&gt;&lt;img alt="Gram2" src="http://timmachhoc.vn/images/stories/tongquantimmach/Gram2.jpg" width="500" height="288" /&gt;&lt;/div&gt; 3) Tràng cầu khuẩn : Trước đây tràng cầu khuẩn được xếp loại chung với  liên cầu khuẩn nhóm D. Nhờ những nghiên cứu ở mức DNA, ngày nay người ta  tách tràng cầu khuẩn thành một họ vi khuẩn riêng. Tràng cầu khuẩn chiếm  tỉ lệ 5-18% trong số các tác nhân gây VNTMNT 16. Vi khuẩn này thường  xâm nhập vào máu qua các thủ thuật đại tràng, niệu đạo và bàng quang.  Trong số các trường hợp VNTMNT do tràng cầu khuẩn, khoảng 80% là do  Enterococcus faecalis và 10% là do Enterococcus faecium &lt;sup&gt;16&lt;/sup&gt;.&lt;br /&gt;Tràng  cầu khuẩn có đặc điểm là đề kháng kháng sinh rất mạnh. Vi khuẩn này  không bị tiêu diệt bởi penicillin G và ampicillin ở liều thông thường và  đề kháng một cách tự nhiên với tất cả cephalosporin. Enterococcus  faecium đề kháng nhóm penicillin mạnh hơn Enterococcus faecalis (NĐƯCTT  của penicillin và ampicillin đối với E. faecium cao hơn gấp 8 lần NĐƯCTT  của 2 kháng sinh này đối với E. faecalis). Tràng cầu khuẩn đề kháng  penicillin qua 2 cơ chế tách biệt 15. Cơ chế thứ nhất là sản sinh  -lactamase gặp ở một số chủng E. faecalis. Sự đề kháng penicillin qua cơ  chế này có thể được khắc phục bằng cách phối hợp thêm một chất ức chế  -lactamase, ví dụ dùng phối hợp ampicillin/sulbactam hoặc  amoxicillin/clavulanate. Cơ chế thứ hai là sự đề kháng nội sinh do thay  đổi protein gắn penicillin của vi khuẩn. Đây là cơ chế đề kháng chủ yếu  của E. faecium với penicillin. Nhiễm trùng do chủng tràng cầu khuẩn đề  kháng vừa phải (NĐƯCTT của ampicillin từ 16 đến 64 mg/l) có thể còn đáp  ứng với penicillin hoặc ampicillin liều cao phối hợp gentamicin &lt;sup&gt;15,17&lt;/sup&gt;.&lt;br /&gt;Trong  điều kiện in vitro tràng cầu khuẩn luôn luôn đề kháng aminoglycoside ở  nồng độ thông thường (gọi là đề kháng aminoglycoside ở mức thấp –  low-level resistance). Một số chủng đề kháng aminoglycoside ở mức cao  (high-level resistance), biểu hiện là NĐƯCTT của gentamicin &gt; 500  g/ml và NĐƯCTT của streptomycin &gt; 2000 g/ml.&lt;br /&gt;Từ cuối thập niên  1980 đã xuất hiện nhiều chủng tràng cầu khuẩn đề kháng các kháng sinh họ  glycopeptide. Đa số các chủng này kháng cả vancomycin (NĐƯCTT &gt; 64  mg/l) lẫn teicoplanin (NĐƯCTT &gt; 16 mg/l). Kiểu đề kháng này  (phenotype vanA) xuất hiện qua trung gian plasmide nên có thể được lan  truyền giữa các chủng. Một số ít chủng kháng van comycin nhưng vẫn còn  nhạy với teicoplanin (phenotype vanB và vanC) &lt;sup&gt;1,15,17&lt;/sup&gt;.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;strong&gt;ĐIỀU TRỊ VIÊM NỘI TÂM MẠC NHIỄM TRÙNG DO CẦU KHUẨN GRAM DƯƠNG KHÁNG THUỐC&lt;/strong&gt;&lt;/div&gt; &lt;div style="text-align: justify;"&gt;&lt;br /&gt;1) Tụ cầu khuẩn kháng meticillin :  Vancomycin là kháng sinh chủ lực điều trị VNTMNT do tụ cầu khuẩn kháng  meticillin. Việc phối hợp thêm gentamicin làm tăng vận tốc sát khuẩn.  Trong VNTMNT trên van nhân tạo, việc phối hợp thêm rifampicin (nếu chủng  tụ cầu khuẩn gây bệnh nhạy rifampicin) rất hữu ích 1,2. Trên bảng 2 là  phác đồ kháng sinh trị liệu VNTMNT do tụ cầu khuẩn kháng meticillin.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;div style="text-align: center;"&gt;&lt;strong&gt;Bảng 2 : Kháng sinh trị liệu VNTMNT do tụ cầu khuẩn kháng meticillin &lt;sup&gt;1,2&lt;/sup&gt;.&lt;/strong&gt;&lt;br /&gt;&lt;/div&gt; &lt;div style="text-align: center;"&gt;&lt;img alt="Gram3" src="http://timmachhoc.vn/images/stories/tongquantimmach/Gram3.jpg" width="500" height="137" /&gt;&lt;br /&gt;&lt;/div&gt; Một vấn đề đang được một số nhà nghiên cứu quan tâm là sự đáp ứng lâm  sàng kém với liệu pháp vancomycin trong trường hợp NĐƯCTT của vancomycin  đối với chủng tụ cầu khuẩn ở mức tương đối cao. Hidayat và cộng sự theo  dõi 95 bệnh nhân nhiễm trùng bệnh viện (viêm phổi và/hoặc nhiễm trùng  máu) do S. aureus kháng meticillin và so sánh tỉ lệ đáp ứng lâm sàng  trong trường hợp NĐƯCTT của vancomycin ≤ 1 mg/l và ≥ 2 mg/l 18. Kết quả  cho thấy những trường hợp NĐƯCTT ≤ 1 mg/l có tỉ lệ đáp ứng lâm sàng cao  hơn có ý nghĩa so với những trường hợp NĐƯCTT ≥ 2 mg/l (85% so với 62%, p  = 0,02) (hình 2). Tử vong trong những trường hợp đầu cũng thấp hơn so  với những trường hợp sau (10% so với 24%). Từ kết quả này, các tác giả  nghiên cứu đã cảnh báo về khả năng thất bại của liệu pháp vancomycin  ngay cả trong những trường hợp mà NĐƯCTT của vancomycin đối với chủng tụ  cầu khuẩn vẫn còn nằm trong khoảng được cho là nhạy.&lt;br /&gt;&lt;/div&gt; &lt;div style="text-align: justify;"&gt;&lt;br /&gt;&lt;/div&gt; &lt;div style="text-align: justify;"&gt;Một vấn đề đang được một số nhà nghiên  cứu quan tâm là sự đáp ứng lâm sàng kém với liệu pháp vancomycin trong  trường hợp NĐƯCTT của vancomycin đối với chủng tụ cầu khuẩn ở mức tương  đối cao. Hidayat và cộng sự theo dõi 95 bệnh nhân nhiễm trùng bệnh viện  (viêm phổi và/hoặc nhiễm trùng máu) do S. aureus kháng meticillin và so  sánh tỉ lệ đáp ứng lâm sàng trong trường hợp NĐƯCTT của vancomycin ≤ 1  mg/l và ≥ 2 mg/l 18. Kết quả cho thấy những trường hợp NĐƯCTT ≤ 1 mg/l  có tỉ lệ đáp ứng lâm sàng cao hơn có ý nghĩa so với những trường hợp  NĐƯCTT ≥ 2 mg/l (85% so với 62%, p = 0,02) (hình 2). Tử vong trong những  trường hợp đầu cũng thấp hơn so với những trường hợp sau (10% so với  24%). Từ kết quả này, các tác giả nghiên cứu đã cảnh báo về khả năng  thất bại của liệu pháp vancomycin ngay cả trong những trường hợp mà  NĐƯCTT của vancomycin đối với chủng tụ cầu khuẩn vẫn còn nằm trong  khoảng được cho là nhạy.&lt;br /&gt;&lt;/div&gt; &lt;p style="text-align: center;"&gt;&lt;img alt="Gram4" src="http://timmachhoc.vn/images/stories/tongquantimmach/Gram4.jpg" width="500" height="386" /&gt;&lt;/p&gt; &lt;p style="text-align: center;"&gt;&lt;span style="color: rgb(51, 102, 255);"&gt;Hình  2 : Tỉ lệ đáp ứng lâm sàng trong trường hợp NĐƯCTT của vancomycin ≤ 1  mg/l và ≥ 2 mg/l (Cột màu đen biểu thị tỉ lệ đáp ứng lâm sàng. Cột màu  xám biểu thị tỉ lệ nồng độ đáy vancomycin trong máu chưa đạt mức gấp 4  lần NĐƯCTT).&lt;/span&gt;&lt;/p&gt; &lt;p style="text-align: justify;"&gt;Để đối phó với nhiễm trùng do tụ cầu  khuẩn kháng hoặc có độ nhạy trung gian với vancomycin, trong thời gian  gần đây ngành công nghiệp dược đã cho ra đời một số kháng sinh mới có  hoạt tính mạnh chống tụ cầu khuẩn (và cả tràng cầu khuẩn). Các thuốc này  gồm : quinupristin-dalfopristin (là phối hợp một streptogramin A với  một streptogramin B), linezolid (là đại diện đầu tiên của nhóm  oxazolidinone được dùng trong lâmsàng), daptomycin (là một kháng sinh  nhóm lipopeptide), tigecycline (đại diện đầu tiên của nhóm glycylcycline  được dùng trong lâm sàng), oritavancin và dalbavancin (2 kháng sinh này  là những glycopeptide bán tổng hợp). Trong số các kháng sinh này chỉ có  daptomycin đã được nghiên cứu ở bệnh nhân VNTMNT do S. aureus (Kết quả  cho thấy daptomycin có hiệu quả tương đương phối hợp vancomycin –  gentamicin &lt;sup&gt;19&lt;/sup&gt;).&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;strong&gt;2) Liên cầu khuẩn : &lt;/strong&gt;Trong  VNTMNT do liên cầu khuẩn, việc xác định NĐƯCTT của penicillin đối với  chủng vi khuẩn rất quan trọng nhưng lại thường bị các thầy thuốc lâm  sàng bỏ sót. Nếu NĐƯCTT của penicillin  trong khoảng 0,1-0,5 mg/l, liều  penicillin G dùng phải cao hơn là khi NĐƯCTT của penicillin &lt;&gt; 0,5 mg/l thì phải dùng phác đồ kháng sinh dành cho tràng cầu khuẩn &lt;sup&gt;1,2&lt;/sup&gt;.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;strong&gt;3) Tràng cầu khuẩn : &lt;/strong&gt;Một  khi đã chẩn đoán VNTMNT do tràng cầu khuẩn, nên yêu cầu phòng xét  nghiệm vi sinh xác định NĐƯCTT của ampicillin (hoặc penicillin) và  vancomycin đối với chủng vi khuẩn và xác định chủng vi khuẩn có đề kháng  gentamicin và streptomycin ở mức cao hay không &lt;sup&gt;20&lt;/sup&gt;.&lt;/p&gt; &lt;p style="text-align: justify;"&gt;&lt;br /&gt;Bản thân chủng tràng cầu khuẩn  nguyên thủy đã tương đối đề kháng penicillin, do đó liều penicillin G  dùng điều trị VNTMNT do tràng cầu khuẩn rất cao (18-30 triệu đơn  vị/ngày, tương đương khoảng 400.000 đơn vị/kg/ngày). Việc phối hợp thêm  gentamicin cũng là bắt buộc nếu chủng tràng cầu khuẩn không đề kháng  gentamicin ở mức cao. Nếu chủng tràng cầu khuẩn kháng gentamicin ở mức  cao nhưng không kháng streptomycin ở mức cao thì phối hợp penicillin  (ampicillin) với streptomycin 1,2,17. Trong trường hợp chủng tràng cầu  khuẩn đề kháng tất cả aminoglycoside ở mức cao, dùng penicillin G hoặc  ampicillin đơn trị kéo dài (8-12 tuần) 1,16. Gần đây một nhóm tác giả  Tây Ban Nha đã báo cáo việc điều trị thành công cho bệnh nhân VNTMNT do  Enterococcus faecalis kháng aminoglycoside ở mức cao bằng phối hợp  ampicillin – ceftriaxone liều cao (ampicillin tiêm tĩnh mạch 2 g mỗi 4  giờ, ceftriaxone tiêm tĩnh mạch 2 g mỗi 12 giờ, thời gian dùng 6 tuần)&lt;sup&gt; 21&lt;/sup&gt;.&lt;/p&gt; &lt;p style="text-align: justify;"&gt;&lt;br /&gt;Nếu chủng tràng cầu khuẩn kháng nhóm  penicillin (NĐƯCTT của ampicillin &gt; 16 mg/l) thì có 2 lựa chọn :  hoặc dùng ampicillin phối hợp sulbactam (VNTMNT do E. faecalis tiết  -lactamase), hoặc dùng vancomycin thay cho kháng sinh nhóm penicillin  1,17,22.&lt;br /&gt;Đa số chủng E. faecalis kháng vancomycin và một số ít chủng  E. faecium kháng vancomycin còn nhạy với -lactam liều cao 17. Một số  nghiên cứu cho thấy có thể dùng ampicilline liều cao phối hợp imipenem  hoặc ceftriaxone để điều trị VNTMNT do các chủng vi khuẩn này 1,17,20.&lt;br /&gt;Trong  trường hợp chủng tràng cầu khuẩn kháng cả penicillin lẫn vancomycin và  aminoglycoside ở mức cao (có thể gặp với E. faecium), chưa có một phác  đồ kháng sinh nào được chứng minh là có hiệu quả. Kháng sinh được đề  nghị trong trường hợp này là linezolid, quinupristin-dalfopristin hoặc  daptomycin &lt;sup&gt;&lt;strong&gt;1,15,17&lt;/strong&gt;&lt;/sup&gt;.&lt;br /&gt;Trên bảng 3 tóm tắt các phác đồ kháng sinh trị liệu VNTMNT do tràng cầu khuẩn,&lt;br /&gt;Trong  VNTMNT do tràng cầu khuẩn thời gian dùng aminoglycoside là 4-6 tuần (so  với chỉ 1-2 tuần trong VNTMNT do tụ cầu khuẩn hoặc liên cầu khuẩn). Vì  thời gian dùng aminoglycoside kéo dài, bệnh nhân cần được theo dõi định  kỳ chức năng thận. Ở người có chức năng thận bình thường, liều  gentamicin khởi đầu là 3 mg/kg/ngày chia 3 lần và liều streptomycin là  15 mg/kg/ngày chia 2 lần 20. Nếu có điều kiện nên theo dõi nồng độ  aminoglycoside trong máu. Liều gentamicin cần được điều chỉnh để đạt  nồng độ đỉnh 3-4 µg/ml và nồng độ đáy &lt;&gt;20&lt;/sup&gt;.&lt;/p&gt; &lt;div style="text-align: center;"&gt;&lt;strong&gt;Bảng 3 : Kháng sinh trị liệu VNTMNT do tràng cầu khuẩn &lt;sup&gt;1,20&lt;/sup&gt;.&lt;/strong&gt;&lt;br /&gt;&lt;/div&gt; &lt;p style="text-align: center;"&gt;&lt;img alt="Gram5" src="http://timmachhoc.vn/images/stories/tongquantimmach/Gram5.jpg" width="428" height="398" /&gt;&lt;/p&gt; &lt;p style="text-align: justify;"&gt;&lt;strong&gt;Ghi chú&lt;/strong&gt; : Ở trẻ em liều  ampicillin tính theo cân nặng là 300 mg/kg/ngày, liều vancomycin là 40  mg/kg/ngày, liều imipenem là 60-100 mg/kg/ngày, liều linezolid là 30  mg/kg/ngày.&lt;/p&gt; &lt;div style="text-align: center;"&gt;&lt;strong&gt; TÀI LIỆU THAM KHẢO&lt;br /&gt;&lt;/strong&gt;&lt;/div&gt; &lt;p style="text-align: justify;"&gt;1)    Hoen B. Epidemiology and antibiotic treatment of infective endocarditis: an update. Heart 2006; 92: 1694-1700.&lt;br /&gt;2)    Moreillon P, Que YA. Infective endocarditis. Lancet 2004; 363: 139-149.&lt;br /&gt;3)     Wang A, Athan E, Pappas PA, et al, for the International Collaboration  on Endocarditis-Prospective Cohort Study Investigators. Contemporary  clinical profile and outcome of prosthetic valve endocarditis. JAMA  2007; 297: 1354-1361.&lt;br /&gt;4)    Hsu CN, Wang JY, Tseng CD, et al.  Clinical features and predictors for mortality in patients with  infective endocarditis at a university hospital in Taiwan from 1995 to  2003. Epidemiol Infect 2006; 134: 589-597.&lt;br /&gt;5)    Garg N, Kandpal B,  Garg N, et al. Characteristics of infective endocarditis in a developing  country-clinical profile and outcome in 192 Indian patients, 1992-2001.  Int J Cardiol 2005; 98: 253-260.&lt;br /&gt;6)    Mylonakis E, Calderwood SB. Infective endocarditis in adults. N Engl J Med 2001; 345: 1318-1330.&lt;br /&gt;7)     Cabell CH, Abrutyn E. Progress toward a global understanding of  infective endocarditis: early lessons from the International  Collaboration on Endocarditis Investigation. Infect Dis Clin North Am  2002; 16: 255-272.&lt;br /&gt;8)    Prendergast BD. The changing face of infective endocarditis. Heart 2006; 92: 879-885.&lt;br /&gt;9)    Lowy F. Staphylococcal infections. In: Harrisons principles of internal medicine, 17th edition. McGrawHill 2008: 872-881.&lt;br /&gt;10)     Niwa K, Nakazawa M, Tateno S, et al. Infective endocarditis in  congenital heart disease: Japanese national collaboration study. Heart  2005; 91: 795-800.&lt;br /&gt;11)    Andrade-Baiocchi S, Tognim MCB, Baiocchi  OCG, et al. Endocarditis due to glycopeptide-intermediate Staphylococcus  aureus: case report and strain characterization. Diagn Microbiol Infect  Dis 2003; 45: 149-152.&lt;br /&gt;12)    Fridkin SK, Hageman J, McDougal LK, et  al. Epidemiological and microbiological characterization of infections  caused by Staphylococcus aureus with reduced susceptibility to  vancomycin, United States, 1997-2001. Clin Infect Dis 2003; 36: 429-439.&lt;br /&gt;13)     CDC. Staphyloccus aureus resistant to vancomycin – United States, 2002.  Morb Mortal Wkly Rep CDC Surveill Summ 2002; 51: 565-567.&lt;br /&gt;14)    CDC. Vancomycin-resistant Staphylococcus aureus – Pennsylvania, 2002. Morb Mortal Wkly Rep 2002; 51: 902.&lt;br /&gt;15)     Wessels MR. Streptococcal and enterococcal infections. In: Harrisons  principles of internal medicine, 17th edition. McGrawHill 2008: 881-890.&lt;br /&gt;16)    Haldar SM, OGara PT. Infective endocarditis. In: Hursts the heart, 12th edition. McGrawHill 2008: 1975-2004.&lt;br /&gt;17)    Murray BE. Vancomycin-resistant enterococcal infections. N Engl J Med 2000; 342: 710-721.&lt;br /&gt;18)     Hidayat LK, Hsu DI, Quist R, et al. High-dose vancomycin therapy for  methicillin-resistant Staphylococcus aureus infections: Efficacy and  toxicity. Arch Intern Med 2006; 166: 2138-2144.&lt;br /&gt;19)    Fowler VG,  Boucher HW, Corey GR, et al, for the S. aureus Endocarditis and  Bacteremia Study Group. Daptomycin versus standard therapy for  bacteremia and endocarditis caused by Staphylococcus aureus. N Engl J  Med 2006; 355: 653-665.&lt;br /&gt;20)    Baddour LM, Wilson WR, Bayer AS, et  al. Infective endocarditis: Diagnosis, antimicrobial therapy, and  management of complications. A statement for healthcare professionals  from the Committee on Rheumatic Fever, Endocarditis, and Kawasaki  Didease, Council on Cardiovascular Disease in the Young, and the  Councils on Clinical Cardiology, Stroke, and Cardiovascular Surgery and  Anesthesia, American Heart Association. Circulation 2005; 111:  e394-e433.&lt;br /&gt;21)    Gavalda J, Len O, Miro JM, et al. Brief  communication: Treatment of Enterococcus faecalis endocarditis with  ampicillin plus ceftriaxone. Ann Intern Med 2007; 146: 574-579.&lt;br /&gt;22)    Karchmer AW. Infective endocarditis. In: Braunwalds heart disease, 8th edition. Saunders Elsevier 2008: 1713-1737.&lt;/p&gt; &lt;p style="text-align: right;"&gt;&lt;strong&gt;ThS. Hồ Huỳnh Quang Trí – Viện Tim TP. Hồ Chí Minh&lt;/strong&gt;&lt;/p&gt;&lt;p style="text-align: right;"&gt;&lt;br /&gt;&lt;strong&gt;&lt;/strong&gt;&lt;/p&gt;&lt;p style="text-align: right;"&gt;&lt;strong&gt;theo timmachhoc.vn&lt;br /&gt;&lt;/strong&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;-----------------------------------&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Giảng Đường Y Khoa&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;a href="http://giangduongykhoa.blogspot.com/"&gt;http://giangduongykhoa.blogspot.com&lt;/a&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;a href="http://giangduongykhoa.net/"&gt;http://giangduongykhoa.net&lt;/a&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;-----------------------------------&lt;/p&gt;&lt;div class="blogger-post-footer"&gt;Giảng Đường Y Khoa - Nơi Hội Tụ Kiến Thức Y Khoa&lt;img width='1' height='1' src='https://blogger.googleusercontent.com/tracker/8347068896071358659-2004407290013993359?l=giangduongykhoa.blogspot.com' alt='' /&gt;&lt;/div&gt;</content><link rel='replies' type='application/atom+xml' href='http://giangduongykhoa.blogspot.com/feeds/2004407290013993359/comments/default' title='Đăng Nhận xét'/><link rel='replies' type='text/html' href='http://giangduongykhoa.blogspot.com/2010/12/viem-noi-tam-mac-nhiem-trung-do-cau.html#comment-form' title='0 Nhận xét'/><link rel='edit' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/8347068896071358659/posts/default/2004407290013993359'/><link rel='self' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/8347068896071358659/posts/default/2004407290013993359'/><link rel='alternate' type='text/html' href='http://giangduongykhoa.blogspot.com/2010/12/viem-noi-tam-mac-nhiem-trung-do-cau.html' title='Viêm nội tâm mạc nhiễm trùng do cầu khuẩn Gram dương kháng thuốc'/><author><name>Giảng Đường Y Khoa</name><uri>http://www.blogger.com/profile/01045762399869292181</uri><email>noreply@blogger.com</email><gd:image rel='http://schemas.google.com/g/2005#thumbnail' width='32' height='32' src='http://1.bp.blogspot.com/_iO0u_-8tJ8E/S95LXKfU_tI/AAAAAAAAAcY/p80KgeQ8pf0/S220/logo-1.png'/></author><thr:total>0</thr:total></entry><entry><id>tag:blogger.com,1999:blog-8347068896071358659.post-6139937502383902738</id><published>2010-12-21T05:34:00.000-08:00</published><updated>2010-12-21T05:34:00.460-08:00</updated><category scheme='http://www.blogger.com/atom/ns#' term='Nội Khoa - tim mạch'/><title type='text'>Đề kháng Clopidogrel: Cơ chế và xử trí</title><content type='html'>&lt;p&gt;&lt;/p&gt;&lt;div style="text-align: right;"&gt;&lt;strong&gt;ThS. Hồ Huỳnh Quang Trí&lt;br /&gt;&lt;em&gt;Viện Tim TP.HCM&lt;/em&gt;&lt;/strong&gt;&lt;/div&gt; &lt;div style="text-align: justify;"&gt;&lt;strong&gt;MỞ ĐẦU&lt;/strong&gt;&lt;br /&gt;Hiện tượng  vỡ mảng xơ vữa trong động mạch vành có thể xảy ra một cách tự phát  (trong hội chứng mạch vành cấp) hoặc do kết quả của việc can thiệp mạch  vành qua da (có hoặc không kèm đặt stent). Khi mảng xơ vữa bị vỡ, tiểu  cầu được hoạt hóa có thể dẫn đến hình thành huyết khối tiểu cầu gây tắc  mạch. Chính vì vậy, liệu pháp kháng tiểu cầu đóng vai trò thiết yếu  trong điều trị hội chứng mạch vành cấp và trong các thủ thuật can thiệp  mạch vành qua da. Hiện nay phối hợp aspirin với clopidogrel được xem là  liệu pháp kháng tiểu cầu chuẩn trong các tình huống này 1-3. Clopidogrel  là một thuốc thuộc nhóm thienopyridine, có tác dụng ức chế một cách  chọn lọc và không hồi phục các thụ thể P2Y12 trên bề mặt tiểu cầu, qua  đó ức chế sự hoạt hóa tiểu cầu bởi ADP. Nếu như trong y văn trước đây  chỉ đề cập đến hiện tượng đề kháng aspirin, thời gian gần đây ngày càng  có nhiều tác giả quan tâm đến sự đề kháng với clopidogrel.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;strong&gt;CƠ CHẾ ĐỀ KHÁNG CLOPIDOGREL&lt;/strong&gt;&lt;br /&gt;Trước  đây có nhiều giả thuyết được đưa ra để giải thích sự đề kháng  clopidogrel. Các giả thuyết này tập trung vào 3 nhóm yếu tố : lâm sàng,  tế bào và di truyền 4-6. Nhóm yếu tố lâm sàng gồm tuân trị kém, hấp thu  kém và tương tác với các thuốc khác. Nhóm yếu tố tế bào gồm tăng vận tốc  luân chuyển (tạo và hủy) tiểu cầu, giảm hoạt tính của hệ enzym CYP,  tăng phơi bày tiểu cầu với ADP và tăng hoạt hóa tiểu cầu qua các đường  liên quan với thụ thể P2Y (P2Y&lt;sub&gt;1&lt;/sub&gt; và P2Y&lt;sub&gt;12&lt;/sub&gt;) hoặc không liên quan với thụ thể P2Y (ví dụ do collagen, epinephrine, TXA&lt;sub&gt;2&lt;/sub&gt; và thrombin). Nhóm yếu tố di truyền bao gồm những đa dạng về kiểu hình của CYP, GPIa, P2Y&lt;sub&gt;12&lt;/sub&gt; và GP IIIa &lt;sup&gt;4-6&lt;/sup&gt;.&lt;br /&gt;Tuy  nhiên trong thời gian gần đây ngày càng có nhiều chứng cứ cho thấy  chính đặc điểm chuyển hóa của clopidogrel có liên quan với di truyền  đóng vai trò then chốt trong cơ chế đề kháng với thuốc. Bản thân  clopidogrel không có hoạt tính kháng tiểu cầu. Sau khi được hấp thu ở  ruột, khoảng 85% lượng thuốc hấp thu được chuyển hóa bởi các enzym  esterase thành những chất không có hoạt tính và 15% được chuyển hóa bởi  hệ enzym cytochrome P-450 thành chất có hoạt tính ức chế thụ thể P2Y12  5. Enzym chủ yếu trong hệ cytochrome P-450 biến clopidogrel thành chất  có hoạt tính kháng tiểu cầu là enzym CYP2C&lt;sub&gt;19&lt;/sub&gt;. Có nhiều gen  allele khác nhau mã hóa sự tổng hợp enzym CYP2C19. Trong số này có một  gen allele mang tên CYP2C19*2 mã hóa sự tổng hợp enzym CYP2C19 khiếm  khuyết chức năng chuyển hóa clopidogrel 7. Sau khi uống clopidogrel,  người mang gen allele CYP2C19*2 có nồng độ trong huyết tương của chất  chuyển hóa có hoạt tính của clopidogrel thấp hơn so với người không mang  gen này &lt;sup&gt;7,8&lt;/sup&gt;.&lt;br /&gt;Trong một nghiên cứu mang tên EXCELSIOR  (Impact of Extent of Clopidogrel-Induced Platelet Inhibition During  Elective Stent Implantation on Clinical Event Rate), các tác giả nhận  thấy những người được đặt stent mạch vành có mức kết tập tiểu cầu tồn  lưu (residual platelet aggregation) &gt; 14% sau liều nạp 600 mg  clopidogrel có nguy cơ tử vong, nhồi máu cơ tim hoặc can thiệp lại trên  mạch vành đích sau 30 ngày cao hơn có ý nghĩa so với những người có mức  kết tập tiểu cầu tồn lưu &lt;&gt; 14% ở những người có ít nhất một gen allele *2 cao hơn  có ý nghĩa so với tỉ lệ này ở những người mang kiểu gen đồng hợp tử  (*1/*1), cả sau khi uống liều nạp 600 mg clopidogrel (62,4% so với  43,4%, p &lt;&gt; 14% cao gấp 3 lần so với tần suất này của những người có mức kết  tập tiểu cầu tồn lưu &lt; 14% 8.&lt;br /&gt;Trong năm 2009 có 3 nghiên cứu lớn  chứng tỏ vai trò tối quan trọng của kiểu gen CYP2C19 trong đáp ứng với  liệu pháp clopidogrel. Nghiên cứu thứ nhất được thực hiện bởi một nhóm  tác giả Pháp, đứng đầu là Collet và Montalescot 10. Các tác giả theo dõi  259 bệnh nhân trẻ (&lt; hr =" 4,04;" p =" 0,0006)"&gt;10&lt;/sup&gt;.&lt;br /&gt;Nghiên cứu thứ hai được thực  hiện bởi một nhóm tác giả Hoa Kỳ, đứng đầu là Mega và Sabatine (Brigham  and Women’s Hospital, Boston) 11. Nghiên cứu này gồm 2 phần. Trong phần  đầu các tác giả tìm hiểu mối liên quan giữa các kiểu gen mã hóa enzym  CYP với nồng độ huyết tương của chất chuyển hóa có hoạt tính của  clopidogrel và mức ức chế tiểu cầu bởi clopidogrel ở 162 người tình  nguyện khỏe mạnh. Trong phần sau các tác giả khảo sát mối liên quan giữa  các kiểu gen mã hóa CYP với tần suất các biến cố tim mạch nặng (chết do  nguyên nhân tim mạch, nhồi máu cơ tim, đột quị) ở 1477 bệnh nhân hội  chứng mạch vành cấp tham gia vào thử nghiệm TRITON-TIMI 38 (Trial to  Assess Improvement in Therapeutic Outcomes by Optimizing Platelet  Inhibition with Prasugrel – Thrombolysis in Myocardial infarction – 38)  được điều trị bằng clopidogrel. Kết quả phần đầu cho thấy so với những  người không mang gen allele CYP2C19*2, những người mang gen này (chiếm  30% dân số nghiên cứu) có nồng độ huyết tương của chất chuyển hóa có  hoạt tính của clopidogrel thấp hơn 32,4% (p &lt; p =" 0,01)" p =" 0,02)"&gt;11&lt;/sup&gt;.&lt;/div&gt; &lt;div style="text-align: justify;"&gt;&lt;br /&gt;&lt;/div&gt; &lt;div style="text-align: center;"&gt;&lt;img alt="CLOPIDOGREL-h1" src="http://timmachhoc.vn/images/stories/tongquantimmach/CLOPIDOGREL-h1.jpg" width="500" height="396" /&gt;&lt;/div&gt; &lt;div style="text-align: center;"&gt;&lt;strong&gt;Hình 1: Tần suất dồn các biến  cố chết do nguyên nhân tim mạch, nhồi máu cơ tim hoặc đột quị của người  mang gen CYP2C19*2 (Carriers, đường trên) và người không mang gen này  (Noncarriers, đường dưới) (phân tích số liệu của 1477 bệnh nhân dùng  clopidogrel tham gia nghiên cứu TRITON-TIMI 38). &lt;/strong&gt;&lt;br /&gt;&lt;/div&gt; &lt;div style="text-align: justify;"&gt;&lt;br /&gt;&lt;/div&gt; &lt;div style="text-align: justify;"&gt;Nghiên cứu thứ ba được thực hiện bởi  một nhóm tác giả Pháp, đứng đầu là Simon (Khoa Dược lý, Đại học Pierre  và Marie Curie, Paris) 12. Đây là một nghiên cứu sổ bộ trên 2208 bệnh  nhân nhồi máu cơ tim cấp được điều trị bằng clopidogrel. Mục tiêu nghiên  cứu là khảo sát mối liên quan giữa một bên là các kiểu gen allele khác  nhau có ảnh hưởng đến sự hấp thu clopidogrel (ABCB1), sự chuyển  clopidogrel thành chất có hoạt tính (CYP3A5 và CYP2C19) và hoạt tính  sinh học của thuốc (P2RY12 và ITGB3), và một bên là nguy cơ bị các biến  cố tim mạch nặng (chết, đột quị không chết hoặc nhồi máu cơ tim không  chết) sau 1 năm. Kết quả nghiên cứu cho thấy các kiểu gen allele của  CYP3A5, P2RY12 và ITGB3 không có ảnh hưởng gì đến dự hậu tim mạch. Những  người mang kiểu gen allele TT của ABCB1 có tần suất các biến cố tim  mạch nặng sau 1 năm cao hơn so với những người mang kiểu gen allele CC  (15,5% so với 10,7%). Đặc biệt những người có bất kỳ 2 gen nào trong số  các gen allele mã hóa enzym CYP2C19 khiếm khuyết (*2, *3, *4, *5) có tần  suất các biến cố tim mạch nặng sau 1 năm cao hơn rất có ý nghĩa so với  những người không có gen nào trong số này (21,5% so với 13,3%). Khảo sát  riêng ở 1535 bệnh nhân đã được can thiệp mạch vành qua da trong thời  gian nằm viện cho thấy những người có bất kỳ 2 gen nào trong số các gen  mã hóa enzym CYP2C19 khiếm khuyết có nguy cơ bị các biến cố tim mạch  nặng tăng gấp 3 lần (p = 0,005) &lt;sup&gt;12&lt;/sup&gt;.&lt;br /&gt;Kết quả của các nghiên  cứu nêu trên đã giúp làm sáng tỏ cơ chế đề kháng clopidogrel, đồng thời  cũng làm nảy sinh câu hỏi “Có nên xác định kiểu gen mã hóa enzym  CYP2C19 một cách thường qui cho bệnh nhân hội chứng mạch vành cấp, đặc  biệt là những người được can thiệp mạch vành qua da hay không?” 13,14.  Cách tiếp cận này lô-gích về mặt dược lý, tuy nhiên xác định kiểu gen  đòi hỏi khá nhiều thời gian nên không thích hợp cho một tình huống cấp  cứu như hội chứng mạch vành cấp, đó là chưa kể không phải trung tâm nào  cũng có thể thực hiện xét nghiệm này.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;strong&gt;XỬ TRÍ ĐỀ KHÁNG CLOPIDOGREL&lt;/strong&gt;&lt;br /&gt;Để khắc phục sự đề kháng clopidogrel, các nhà nghiên cứu đã nghĩ đến việc tăng liều nạp hoặc tăng liều duy trì.&lt;br /&gt;&lt;strong&gt;1. Tăng liều nạp clopidogrel:&lt;/strong&gt;  Liều nạp clopidogrel thông thường là 300 mg và khi chuẩn bị can thiệp  mạch vành qua da là 600 mg 1-3. Trong nghiên cứu ISAR-CHOICE  (Intracoronary Stenting and Antithrombotic Regimen: Choose between 3  High Oral Doses for Immediate Clopidogrel Effect), von Beckerath và cộng  sự đã thử dùng liều nạp 900 mg cho bệnh nhân cần can thiệp mạch vành  qua da và so sánh lợi ích của liều nạp 900 mg với liều nạp 600 mg 15.  Kết quả cho thấy liều nạp 900 mg không hơn liều nạp 600 mg xét về mặt ức  chế tiểu cầu và nồng độ chất chuyển hóa có hoạt tính của clopidogrel  trong huyết tương sau khi uống. Các tác giả giải thích điều này là do  khi bệnh nhân uống một lúc một liều clopidogrel cao hơn 600 mg thì lượng  clopidogrel hấp thu cũng không nhiều hơn so với khi uống 600 mg 15. Sau  khi kết quả ISAR-CHOICE được công bố, các nhà nghiên cứu đã nghĩ đến  giải pháp tăng liều nạp clopidogrel không phải bằng cách cho uống một  lúc nhiều hơn 600 mg mà bằng cách cho uống nhiều liều 600 mg cách quãng.&lt;br /&gt;Mới  đây một nhóm nhà nghiên cứu Pháp, đứng đầu là Laurent Bonello, đã đánh  giá lợi ích của việc điều chỉnh liều nạp clopidogrel dựa vào chỉ số VASP  (vasodilator-stimulated phosphoprotein) trong một thử nghiệm lâm sàng  phân nhóm ngẫu nhiên  trên những bệnh nhân được đặt stent mạch vành vì  đau thắt ngực ổn định kháng điều trị nội khoa hoặc hội chứng mạch vành  cấp không ST chênh lên 16. Phương pháp VASP cho phép đo mức đối kháng  thụ thể P2Y12 trong mẫu máu toàn phần. Chỉ số VASP &gt; 50% đồng nghĩa  với tiểu cầu chưa được ức chế đủ. Từ gần 1000 bệnh nhân được đo chỉ số  VASP sau khi dùng liều nạp 600 mg clopidogrel, các tác giả chọn ra 429  người có chỉ số VASP &gt; 50%. 429 người này được phân ngẫu nhiên vào  nhóm chứng (n = 214) hoặc nhóm điều trị dựa vào VASP (n = 215). Ở nhóm  chứng, bệnh nhân được can thiệp mạch vành qua da mà không phải dùng thêm  liều nạp clopidogrel. Ở nhóm điều trị dựa vào VASP, bệnh nhân được dùng  thêm từ 1 đến 3 liều nạp 600 mg clopidogrel nữa để đạt chỉ số VASP &lt;&gt; 50%.&lt;br /&gt;Kết quả  nghiên cứu cho thấy tần suất huyết khối tắc stent sau 1 tháng của nhóm  điều trị dựa vào VASP thấp hơn có ý nghĩa so với tần suất này của nhóm  chứng (0,5% so với 4,2%, p &lt; 0,01) (hình 2). Tần suất các biến cố tim  mạch nặng ở nhóm điều trị dựa vào VASP cũng thấp hơn có ý nghĩa (0,5%  so với 8,9% ở nhóm chứng, p &lt; 0,001). Tần suất chảy máu của 2 nhóm  tương đương nhau (3,7% so với 2,8%, p = 0,8) 16. Kết quả nghiên cứu này  chứng tỏ điều chỉnh liều nạp clopidogrel trước can thiệp mạch vành qua  da dựa vào chỉ số VASP là một tiếp cận rất hứa hẹn.&lt;br /&gt;Đo chỉ số VASP là một phương pháp đánh giá rất đặc hiệu đối với sự ức chế thụ thể P2Y&lt;sub&gt;12&lt;/sub&gt;, tuy nhiên phương pháp này tương đối phức tạp và đòi hỏi khá nhiều thời gian &lt;sup&gt;17,18&lt;/sup&gt;.  Hiện đã có một loại máy đánh giá mức độ ức chế tiểu cầu cho kết quả  nhanh (trong vòng vài phút) mang tên VerifyNow do công ty Accumetrics  (San Diego, California) giới thiệu tại Hoa Kỳ và một số quốc gia Châu Âu  &lt;sup&gt;17,18&lt;/sup&gt;. Nhiều nhà nghiên cứu đang lên kế hoạch tiến hành  những thử nghiệm lâm sàng đánh giá hiệu quả của clopidogrel liều cao dựa  vào máy này.&lt;/div&gt; &lt;div style="text-align: justify;"&gt;&lt;br /&gt;&lt;/div&gt; &lt;div style="text-align: center;"&gt;&lt;img alt="CLOPIDOGREL-h2" src="http://timmachhoc.vn/images/stories/tongquantimmach/CLOPIDOGREL-h2.jpg" width="417" height="408" /&gt;&lt;/div&gt; &lt;div style="text-align: center;"&gt;&lt;strong&gt;Hình 2: Tỉ lệ không bị huyết  khối tắc stent theo thời gian của nhóm điều trị dựa vào VASP  (VASP-guided group, đường trên) và nhóm chứng (Control group, đường  dưới).&lt;/strong&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;/div&gt; &lt;div style="text-align: justify;"&gt;&lt;br /&gt;&lt;/div&gt; &lt;div style="text-align: justify;"&gt;&lt;strong&gt;2. Tăng liều duy trì clopidogrel&lt;/strong&gt;  : Liều duy trì chuẩn của clopidogrel là 75 mg/ngày. Trong năm 2007 có 2  thử nghiệm lâm sàng so sánh hiệu quả ức chế tiểu cầu của liều  clopidogrel 150 mg/ngày với liều chuẩn là ISAR-CHOICE 2 (Intracoronary  Stenting and Antithrombotic Regimen: Choose a High Oral maintenance dose  for Intensified Clopidogrel Effect 2) và OPTIMUS (Optimizing  Antiplatelet Therapy in Diabetes Mellitus) &lt;sup&gt;19,20&lt;/sup&gt;.&lt;br /&gt;Tham  gia ISAR-CHOICE 2 có 60 bệnh nhân đã được can thiệp mạch vành qua da  thành công và được dùng liều nạp clopidogrel 600 mg. Bệnh nhân được phân  ngẫu nhiên cho dùng clopidogrel duy trì 150 mg/ngày hoặc 75 mg/ngày  trong 30 ngày. Sau 30 ngày chức năng tiểu cầu được đánh giá bằng phương  pháp đo kết tập quang học (optical aggregometry) và máy VerifyNow. Kết  quả cho thấy mức độ ức chế tiểu cầu của nhóm 150 mg/ngày cao hơn có ý  nghĩa so với nhóm 75 mg/ngày, dù là đo bằng phương pháp kết tập quang  học (hình 3) hay bằng máy VerifyNow &lt;sup&gt;19&lt;/sup&gt;.&lt;/div&gt; &lt;div style="text-align: justify;"&gt;&lt;br /&gt;&lt;/div&gt; &lt;div style="text-align: center;"&gt;&lt;img alt="CLOPIDOGREL-h3" src="http://timmachhoc.vn/images/stories/tongquantimmach/CLOPIDOGREL-h3.jpg" width="489" height="441" /&gt;&lt;/div&gt; &lt;div style="text-align: center;"&gt;&lt;strong&gt;Hình 3: Kết tập tiểu cầu tối đa  dưới tác dụng của 5 mol/l ADP của bệnh nhân dùng liều clopidogrel duy  trì 150 mg/ngày và 75 mg/ngày.&lt;/strong&gt;&lt;br /&gt;&lt;/div&gt; &lt;div style="text-align: justify;"&gt;&lt;br /&gt;&lt;/div&gt; &lt;div style="text-align: justify;"&gt;Trong OPTIMUS 40 người bệnh mạch vành  có đái tháo đường týp 2, đang được điều trị bằng phối hợp  aspirin-clopidogrel và đáp ứng kém với clopidogrel (kết tập tiểu cầu tối  đa dưới tác dụng của 20 mmol/l ADP &gt; 50%) được phân ngẫu nhiên cho  dùng clopidogrel duy trì 150 mg/ngày hoặc 75 mg/ngày trong 30 ngày. Sau  30 ngày, các tác giả nhận thấy mức độ ức chế tiểu cầu của nhóm 150  mg/ngày cao hơn có ý nghĩa so với nhóm 75 mg/ngày, tuy nhiên vẫn còn 60%  bệnh nhân ở nhóm 150 mg/ngày đáp ứng kém với clopidogrel &lt;sup&gt;20&lt;/sup&gt;.&lt;br /&gt;Theo  hướng dẫn của Trường Môn Tim mạch và Hiệp Hội Tim Hoa Kỳ về can thiệp  mạch vành qua da năm 2005, ở những bệnh nhân mà huyết khối stent bán cấp  có thể gây hậu quả nghiêm trọng hoặc tử vong (thân chung mạch vành trái  không được bảo vệ, chỗ chia nhánh thân chung, hoặc động mạch vành cuối  cùng còn thông suốt), nên xem xét việc khảo sát chức năng tiểu cầu và  nếu mức độ ức chế tiểu cầu &lt;&gt;21&lt;/sup&gt;.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;strong&gt;TƯƠNG TÁC GIỮA THUỐC ỨC CHẾ BƠM PROTON VÀ CLOPIDOGREL&lt;/strong&gt;&lt;br /&gt;Tương  tác giữa thuốc ức chế bơm proton và clopidogrel hiện là một vấn đề rất  thời sự. Bản thân clopidogrel không gây loét dạ dày tá tràng, tuy nhiên  clopidogrel có thể làm vết loét chậm lành do ức chế sự phóng thích các  yếu tố tăng trưởng mạch máu (như yếu tố tăng trưởng nội mô mạch máu –  vascular endothelial growth factor) &lt;sup&gt;22&lt;/sup&gt;. Theo khuyến cáo do  Trường Môn Tim mạch và Hiệp Hội Tim Hoa Kỳ phối hợp với Trường Môn Dạ  dày-Ruột Hoa Kỳ (American College of Gastroenterology) đưa ra năm 2008, ở  những người có chỉ định dùng thuốc kháng tiểu cầu dài hạn và có tiền sử  loét dạ dày tá tràng, nên tầm soát H.pylori và điều trị dứt điểm nếu bị  nhiễm vi khuẩn này 22. Cũng theo khuyến cáo này, ở những bệnh nhân có  chỉ định dùng thuốc kháng tiểu cầu dài hạn và có tiền sử xuất huyết tiêu  hóa trên hoặc phải dùng phối hợp 2 thuốc kháng tiểu cầu (aspirin +  clopidogrel) hoặc phải dùng thuốc kháng tiểu cầu phối hợp với thuốc  kháng đông, nên dùng thuốc ức chế bơm proton kèm theo &lt;sup&gt;22&lt;/sup&gt;.&lt;br /&gt;Mọi  việc bắt đầu vào năm 2008, khi kết quả của nghiên cứu OCLA (Omeprazole  CLopidogrel Aspirin) được công bố trên tờ báo của Trường Môn Tim mạch  Hoa Kỳ 23. Trong nghiên cứu này, 124 bệnh nhân đã được đặt stent mạch  vành và đang dùng phối hợp aspirin + clopidogrel được phân ngẫu nhiên  cho dùng omeprazole 20 mg/ngày hoặc placebo trong 7 ngày. Sau 7 ngày  bệnh nhân được đánh giá mức độ ức chế tiểu cầu bằng phương pháp VASP.  Các nhà nghiên cứu báo cáo mức độ ức chế tiểu cầu của nhóm dùng  omeprazole thấp hơn có ý nghĩa so với nhóm dùng placebo. Sự khác biệt  này được giải thích là do omeprazole ức chế enzym CYP2C19 gây cản trở sự  chuyển clopidogrel thành chất có hoạt tính &lt;sup&gt;23&lt;/sup&gt;.&lt;br /&gt;Tiếp theo  OCLA có 2 nghiên cứu quan sát đánh giá ảnh hưởng của thuốc ức chế bơm  proton trên mức độ ức chế tiểu cầu bởi clopidogrel. Nghiên cứu của  Sibbing và cộng sự cho thấy omeprazole giảm hiệu quả ức chế tiểu cầu của  clopidogrel nhưng pantoprazole và esomeprazole không có tác dụng này  24. Còn trong nghiên cứu của Siller-Matula và cộng sự, các thuốc  pantoprazole và esomeprazole cũng không giảm hiệu quả ức chế tiểu cầu  của clopidogrel 25. Cả 2 nhóm tác giả này đều cho rằng khác với  omeprazole, pantoprazole và esomeprazole không ức chế enzym CYP2C19 nên  không giảm hiệu quả của clopidogrel.&lt;br /&gt;Bên cạnh 3 nghiên cứu kể trên  còn có một số nghiên cứu dùng tiêu chí đánh giá là các biến cố lâm sàng  quan trọng. Kết quả của các nghiên cứu sau này được tóm tắt trên bảng 1.  Kết luận rút ra được là sự tương tác giữa các thuốc ức chế bơm proton  với clopidogrel dẫn đến tăng nguy cơ bị các biến cố tim mạch nặng. Chỉ  có nghiên cứu của Juurlink và cộng sự (Canada) cho thấy pantoprazole  không tăng nguy cơ như các thuốc ức chế bơm proton khác, còn trong 2  nghiên cứu còn lại không có sự khác biệt nào giữa các thuốc ức chế bơm  proton &lt;sup&gt;26-28&lt;/sup&gt;.&lt;/div&gt; &lt;div style="text-align: justify;"&gt;&lt;br /&gt;&lt;/div&gt; &lt;div style="text-align: center;"&gt;&lt;strong&gt;Bảng 1: Các nghiên cứu đánh giá  ảnh hưởng của thuốc ức chế bơm proton trên nguy cơ bị các biến cố tim  mạch nặng ở bệnh nhân được điều trị bằng clopidogrel.&lt;/strong&gt;&lt;br /&gt; &lt;table style="border-collapse: collapse; width: 100%;" border="1" cellpadding="3" cellspacing="0"&gt; &lt;tbody&gt; &lt;tr&gt; &lt;td valign="top" width="95"&gt; &lt;p&gt;Nghiên cứu&lt;/p&gt; &lt;/td&gt; &lt;td valign="top" width="136"&gt; &lt;p&gt;Đối tượng&lt;/p&gt; &lt;/td&gt; &lt;td valign="top" width="176"&gt; &lt;p&gt;Tiêu chí đánh   giá chính&lt;/p&gt; &lt;/td&gt; &lt;td valign="top" width="161"&gt; &lt;p&gt;Kết quả&lt;/p&gt; &lt;/td&gt; &lt;/tr&gt; &lt;tr&gt; &lt;td valign="top" width="95"&gt; &lt;p&gt;Ho &amp;amp;   cộng sự &lt;sup&gt;26&lt;/sup&gt;&lt;/p&gt; &lt;/td&gt; &lt;td valign="top" width="136"&gt; &lt;p&gt;8205 bệnh   nhân sau hội chứng mạch vành cấp&lt;/p&gt; &lt;/td&gt; &lt;td valign="top" width="176"&gt; &lt;p&gt;Chết do mọi   nguyên nhân và tái nhập viện vì hội chứng mạch vành cấp&lt;/p&gt; &lt;/td&gt; &lt;td valign="top" width="161"&gt; &lt;p&gt;OR = 1,25   (KTC 95%: 1,11-1,41)&lt;/p&gt; &lt;/td&gt; &lt;/tr&gt; &lt;tr&gt; &lt;td valign="top" width="95"&gt; &lt;p&gt;Juurlink   &amp;amp; cộng sự &lt;sup&gt;27&lt;/sup&gt;&lt;/p&gt; &lt;/td&gt; &lt;td valign="top" width="136"&gt; &lt;p&gt;13636 bệnh   nhân sau nhồi máu cơ tim cấp&lt;/p&gt; &lt;/td&gt; &lt;td valign="top" width="176"&gt; &lt;p&gt;Tái nhập   viện vì nhồi máu cơ tim sau 90 ngày&lt;/p&gt; &lt;/td&gt; &lt;td valign="top" width="161"&gt; &lt;p&gt;OR = 1,27   (KTC 95%: 1,03-1,57)&lt;/p&gt; &lt;p&gt;Riêng   pantoprazole: OR = 1,02 (0,70-1,47)&lt;/p&gt; &lt;/td&gt; &lt;/tr&gt; &lt;tr&gt; &lt;td valign="top" width="95"&gt; &lt;p&gt;Clopidogrel   Medco Outcomes &lt;sup&gt;28&lt;/sup&gt;&lt;/p&gt; &lt;/td&gt; &lt;td valign="top" width="136"&gt; &lt;p&gt;16690 bệnh   nhân sau đặt stent mạch vành&lt;/p&gt; &lt;/td&gt; &lt;td valign="top" width="176"&gt; &lt;p&gt;Nhập viện   vì đột quị hoặc cơn thiếu máu não thoáng qua, hội chứng  mạch vành cấp, chết   do nguyên nhân tim mạch, tái tưới máu mạch vành&lt;/p&gt; &lt;/td&gt; &lt;td valign="top" width="161"&gt; &lt;p&gt;Omeprazole:   OR = 1,39 (p &lt;&gt; &lt;p&gt;Esomeprazole:   OR = 1,57 (p &lt;&gt; &lt;p&gt;Pantoprazole:   OR = 1,61 (p &lt;&gt; &lt;p&gt;Lansoprazole:   OR = 1,39 (p &lt;&gt; &lt;/td&gt; &lt;/tr&gt; &lt;/tbody&gt; &lt;/table&gt;&lt;br /&gt;&lt;/div&gt; &lt;div style="text-align: justify;"&gt;Cho đến nay các hội chuyên khoa của  Hoa Kỳ lẫn Châu Âu đều chưa đưa ra một kết luận chính thức nào về ảnh  hưởng của thuốc ức chế bơm proton trên nguy cơ bị các biến cố tim mạch  nặng của bệnh nhân được điều trị bằng clopidogrel. Dù vậy thầy thuốc  cũng cần lưu ý đến tương tác giữa 2 thuốc này. Ở bệnh nhân đang được  điều trị bằng clopidogrel, việc dùng thuốc ức chế bơm proton chỉ nên hạn  chế cho những người có nguy cơ loét/xuất huyết tiêu hóa trên cao, có  chỉ định tuyệt đối dùng thuốc ức chế bơm proton. Nếu cần dùng thì nên  cho bệnh nhân uống clopidogrel và thuốc ức chế bơm proton cách xa nhau  ít nhất 5-6 giờ.&lt;br /&gt;Các thuốc kháng tiết axít khác có thể là giải pháp  thay thế cho thuốc ức chế bơm proton, tuy nhiên nhiều nghiên cứu cho  thấy misoprostol, sucralfate và các thuốc đối kháng thụ thể H2 histamin  đều có hiệu quả thấp hơn hẳn so với thuốc ức chế bơm proton trong việc  ngừa loét tiêu hóa do thuốc &lt;sup&gt;22&lt;/sup&gt;.&lt;/div&gt;&lt;br /&gt;&lt;strong&gt;TÀI LIỆU THAM KHẢO&lt;/strong&gt;&lt;br /&gt;1)     Management of acute myocardial infarction in patients presenting with  persistent ST-segment elevation. The Task Force on the management of  ST-segment elevation acute myocardial infarction of the European Society  of Cardiology. Eur Heart J 2008;29:2909-2945.&lt;br /&gt;2)    ACC/AHA 2007  guidelines for the management of patients with unstable  angina/non-ST-elevation myocardial infarction – Executive summary. A  report of the American College of Cardiology/American Heart Association  Task Force on practice guidelines. J Am Coll Cardiol 2007;50:652-726.&lt;br /&gt;3)     Newer pharmacotherapy in patients undergoing percutaneous coronary  interventions: A guide for pharmacists and other health care  professionals. Expert opinion from the American Heart Association’s  diagnostic and Interventional Catheterization Committee and Council on  Clinical Cardiology, and the American College of Clinical Pharmacy’s  Cardiology Practice Research Network. Pharmacotherapy 2006;26:1537-1556.&lt;br /&gt;4)     O’Donoghue M, Wiviott SD. Clopidogrel response variability and future  therapies. Clopidogrel: Does one size fit all? Circulation  2006;114:600-606.&lt;br /&gt;5)    Angiolillo DJ, Guzman LA, Bass TA. Current antiplatelet therapies: Benefits and limitations. Am Heart J 2008;156:S3-S9.&lt;br /&gt;6)    Angiolillo DJ. Variability in responsiveness to oral antiplatelet therapy. Am J Cardiol 2009;103[suppl]:27A-34A.&lt;br /&gt;7)     Brandt JT, Close SL, Iturria SJ, et al. Common polymorphisms of CYP2C19  and CYP2C9 affect the pharmacokinetic and pharmacodynamic response to  clopidogrel but not prasugrel. J Thromb Haemost 2007;5:2429-2436.&lt;br /&gt;8)     Trenk D, Hochholzer W, Fromm MF, et al. Cytochrome P450 2C19 681G&gt;A  polymorphism and high on-clopidogrel platelet reactivity associated with  adverse 1-year clinical outcome of elective percutaneous coronary  intervention with drud-eluting or bare-metal stents. J Am Coll Cardiol  2008;51:1925-1934.&lt;br /&gt;9)    Hochholzer W, Trenk D, Bestehorn P, et al.  Impact of the degree of peri-interventional platelet inhibition after  loading with clopidogrel on early outcome of elective coronary stent  placement. J Am Coll Cardiol 2006;48:1742-1750.&lt;br /&gt;10)    Collet JP,  Hulot JS, Pena A, et al. Cytochrome P450 2C19 polymorphism in young  patients treated with clopidogrel after myocardial infarction: a cohort  study. Lancet 2009;373:309-317.&lt;br /&gt;11)    Mega JL, Close SL, Wiviott SD,  et al. Cytochrome P-450 polymorphisms and response to clopidogrel. N  Engl J Med 2009;360:354-362.&lt;br /&gt;12)    Simon T, Verstuyft C, Mary-Krause  M, et al, for the French Registry of Acute ST-elevation and  Non-ST-elevation Myocardial Infarction (FAST-MI) Investigators. N Engl J  Med 2009;360:363-375.&lt;br /&gt;13)    Storey RF. Clopidogrel in acute coronary syndrome: to genotype or not? Lancet 2009;373:276-278.&lt;br /&gt;14)    Freedman JE, Hylek EM. Clopidogrel, genetics, and drug responsiveness. N Engl J Med 2009;360:411-413.&lt;br /&gt;15)     Von Beckerath N, Taubert D, Pogatsa-Murray G, et al. Absorption,  metabolization, and antiplatelet effects of 300-, 600-, and 900-mg  loading doses of clopidogrel. Results of the ISAR-CHOICE (Intracoronary  Stenting and Antithrombotic Regimen: Choose between 3 High Oral Doses  for Immediate Clopidogrel Effect) Trial. Circulation 2005;112:2946-2950.&lt;br /&gt;16)     Bonello L, Camoin-Jau L, Armero S, et al. Tailored clopidogrel loading  dose according to platelet reactivity monitoring to prevent acute and  subacute stent thrombosis. Am J Cardiol 2009;103:5-10.&lt;br /&gt;17)    Michelson AD. Methods for the measurement of platelet function. Am J Cardiol 2009;103[suppl]:20A-26A.&lt;br /&gt;18)    Oestreich JH, Smyth SS, Campbell CL. Platelet function analysis: At the edge of meaning. Thromb Haemost 2009;101:217-219.&lt;br /&gt;19)     Von Beckerath N, Kastrati A, Wieczorek A, et al. A double-blind,  randomized study on platelet aggregation in patients treated with a  daily dose of 150 or 75 mg of clopidogrel for 30 days. Eur Heart J  2007;28:1814-1819.&lt;br /&gt;20)    Angiolillo DJ, Shoemaker SB, Desai B, et  al. Randomized comparison of a high clopidogrel maintenance dose in  patients with diabetes mellitus and coronary artery disease: Results of  the Optimizing Antiplatelet Therapy in Diabetes Mellitus (OPTIMUS)  Study. Circulation 2007;115:708-716.&lt;br /&gt;21)    Smith JC Jr, Feldman TE,  Hirshfeld JW Jr, et al. ACC/AHA/SCAI 2005 guideline update for  percutaneous coronary intervention: a report of the American College of  Cardiology/American Heart Association Task Force on Practice Guidelines  (ACC/AHA/SCAI Writing Committee to update the 2001 Guidelines for  Percutaneous Coronary Intervention). J Am Coll Cardiol 2006;47:e1-e121.&lt;br /&gt;22)     Bhatt DL, Scheiman J, Abraham NS, et al. ACCF/ACG/AHA 2008 Expert  Consensus Document on reducing the gastrointestinal risks of  antiplatelet therapy and NSAID use: a report of the American College of  Cardiology Foundation Task Force on Clinical Expert Consensus Documents.  Circulation 2008;118:1894-1909.&lt;br /&gt;23)    Gilard M, Arnaud B, Cornily  JC, et al. Influence of omeprazole on the antiplatelet action of  clopidogrel associated with aspirin. The randomized, double-blind OCLA  (Omeprazole CLopidogrel Aspirin) study. J Am Coll Cardiol  2008;51:256-260.&lt;br /&gt;24)    Sibbing D, Morath T, Stegherr J, et al.  Impact of proton pump inhibitors on the antiplatelet effects of  clopidogrel. Thromb Haemost 2009;101:714-719.&lt;br /&gt;25)    Siller-Matula  JM, Spiel AO, Lang IM, et al. Effects of pantoprazole and esomeprazole  on platelet inhibition by clopidogrel. Am Heart J  2009;157:148.e1-148.e5.&lt;br /&gt;26)    Ho PM, Maddox TM, Wang L, et al. Risk  of adverse outcomes associated with concomitant use of clopidogrel and  proton pump inhibitors following acute coronary syndrome. JAMA  2009;301:937-944.&lt;br /&gt;27)    Juurlink DN, Gomes T, Ko DT, et al. A  population-based study of the drug interaction between proton pump  inhibitors and clopidogrel. CMAJ 2009;180:713-718.&lt;br /&gt;28) Wood S.  Possible “class effect” for proton-pump inhibitors on top of clopidogrel  therapy. www.medscape.com/viewarticle/702485.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;theo timmachhoc.vn&lt;br /&gt;&lt;p&gt;-----------------------------------&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Giảng Đường Y Khoa&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;a href="http://giangduongykhoa.blogspot.com/"&gt;http://giangduongykhoa.blogspot.com&lt;/a&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;a href="http://giangduongykhoa.net/"&gt;http://giangduongykhoa.net&lt;/a&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;-----------------------------------&lt;/p&gt;&lt;div class="blogger-post-footer"&gt;Giảng Đường Y Khoa - Nơi Hội Tụ Kiến Thức Y Khoa&lt;img width='1' height='1' src='https://blogger.googleusercontent.com/tracker/8347068896071358659-6139937502383902738?l=giangduongykhoa.blogspot.com' alt='' /&gt;&lt;/div&gt;</content><link rel='replies' type='application/atom+xml' href='http://giangduongykhoa.blogspot.com/feeds/6139937502383902738/comments/default' title='Đăng Nhận xét'/><link rel='replies' type='text/html' href='http://giangduongykhoa.blogspot.com/2010/12/e-khang-clopidogrel-co-che-va-xu-tri.html#comment-form' title='0 Nhận xét'/><link rel='edit' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/8347068896071358659/posts/default/6139937502383902738'/><link rel='self' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/8347068896071358659/posts/default/6139937502383902738'/><link rel='alternate' type='text/html' href='http://giangduongykhoa.blogspot.com/2010/12/e-khang-clopidogrel-co-che-va-xu-tri.html' title='Đề kháng Clopidogrel: Cơ chế và xử trí'/><author><name>Giảng Đường Y Khoa</name><uri>http://www.blogger.com/profile/01045762399869292181</uri><email>noreply@blogger.com</email><gd:image rel='http://schemas.google.com/g/2005#thumbnail' width='32' height='32' src='http://1.bp.blogspot.com/_iO0u_-8tJ8E/S95LXKfU_tI/AAAAAAAAAcY/p80KgeQ8pf0/S220/logo-1.png'/></author><thr:total>0</thr:total></entry><entry><id>tag:blogger.com,1999:blog-8347068896071358659.post-8516832343801773720</id><published>2010-12-20T05:32:00.000-08:00</published><updated>2010-12-20T05:32:00.267-08:00</updated><category scheme='http://www.blogger.com/atom/ns#' term='Nội Khoa - tim mạch'/><title type='text'>Kháng với điều trị Asprin</title><content type='html'>&lt;p&gt;&lt;/p&gt;&lt;br /&gt;&lt;div style="text-align: right;"&gt;&lt;strong&gt;TS.BS. ĐỖ QUANG HUÂN&lt;br /&gt;&lt;em&gt;Viện Tim Tp.HCM&lt;/em&gt;&lt;/strong&gt;&lt;/div&gt; &lt;div style="text-align: justify;"&gt;&lt;strong&gt;A. MỞ ĐẦU: &lt;/strong&gt;&lt;br /&gt;Trong  bệnh lý xơ vữa động mạch, biến chứng tạo huyết khối gây tắc mạch có thể  gây tử vong hoặc để lại di chứng rất nặng nề. Ngay cả sau khi nong mạch  máu có đặt stent, thì ngăn ngừa tạo huyết khối trong stent vẫn đóng vai  trò rất quan trọng. Aspirin là thuốc ức chế kết tập tiểu cầu được sử  dụng thường nhất trong phòng ngừa biến cố lấp mạch trong bệnh lý xơ vữa  động mạch.&lt;br /&gt;Aspirin gắn vào gốc Serin vị trí 529 của men  Cyclooxygenase 1 ( Cox 1) của tiểu cầu, do  đó ức chế không hồi phục men  Cyclooxygenase và ngăn không cho acid arachidonic chuyển thành  thromboxane A2 (TXA2). Tác dụng của Aspirin làm giảm sản xuất TXA2, và  TXA2 là chất làm co mạch mạnh và là chất kích thích gây kết tập tiểu  cầu. Thống kê sơ bộ 287 nghiên cứu trên 135.000 bệnh nhân so sánh thuốc  chống kết tập tiểu cầu và nhóm chứng, trên 77.000 bệnh nhân so sánh các  thuốc chống kết tập tiểu cầu khác nhau cho thấy Aspirin làm giảm 15% tỷ  lệ tử vong tim mạch, giảm 34% tỷ lệ NMCT, giảm 25% tỷ lệ tai biến mạch  máu não trên những bệnh nhân bị bệnh xơ vữa động mạch, có nguy cơ cao.  Các nghiên cứu của Barnathan, Schwarts, Lembo còn cho thấy Aspirin làm  giảm  đáng kể biến chứng tắc mạch sau nong mạch vành&lt;br /&gt;Lợi ích của  Aspirin được công nhận rộng rãi khi sử dụng Aspirin trong ngăn ngừa  huyết khối gây tắc mạch, nhưng những biến cố  tim mạch vẫn xuất hiện ở  những bệnh nhân được điều trị với Aspirin. Có khoảng 10 - 20%, số bệnh  nhân đang điều trị với Aspirin có thể bị huyết khối gây lấp mạch trong  khi theo dõi dài hạn, điều này cho thấy tác dụng chống kết tập tiểu cầu  của Aspirin không như nhau ở tất cả các bệnh nhân. Song song với các kết  qủa thu được trên lâm sàng thì các xét nghiệm đo mức độ kết tập tiểu  cầu sau khi điều trị với Aspirin, mức độ kích hoạt tiểu cầu và thời gian  chảy máu xác dịnh mức đáp ứng của từng bệnh nhân với điều trị Aspirin.  Dựa trên lâm sàng không đáp ứng với điều trị Aspirin và các xét nghiệm  cận lâm sàng “ giảm hay không đáp ứng” với Aspirin trên một số bệnh  nhân, mà hiện nay có khái niệm “kháng Aspirin”.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;strong&gt;B. ĐỊNH NGHIA VÀ TẦN XUẤT KHÁNG ASPIRIN: &lt;/strong&gt;&lt;br /&gt;&lt;strong&gt;1. Định nghĩa:&lt;/strong&gt;&lt;br /&gt;Kháng  Aspirin trong phòng xét nghiệm được định nghĩa khi Aspirin không có tác  dụng làm chống kết tập tiểu cầu bởi 1 trong các xét nghiệm kết tập tiểu  cầu trong phòng thí nghiệm.&lt;br /&gt;Kháng Aspirin trong lâm sàng được định  nghĩa khi Aspirin không có khả năng ngăn ngừa biến cố gây lấp mạch do  huyết khối trên những  bệnh nhân xơ vữa động mạch khi đang điều trị với  Aspirin. Hiện tượng này còn gọi là thất bại với điều trị bằng Aspirin.&lt;br /&gt;Kháng  Aspirin trong cận lâm sàng còn được định nghĩa thất bại của Aspirin về  mặt dược học,  hoặc thất bại của Aspirin trong tác dụng chống kết tập  tiểu cầu.&lt;/div&gt; &lt;div style="text-align: justify;"&gt;&lt;br /&gt;&lt;/div&gt; &lt;div style="text-align: center;"&gt;&lt;strong&gt;Bảng 1 : Xét nghiệm đo tác dụng của Aspirin trong ức chế tiểu cầu.&lt;br /&gt;&lt;/strong&gt;  &lt;table style="border-collapse: collapse; width: 100%;" border="1" cellpadding="5" cellspacing="0"&gt; &lt;tbody style="text-align: left;"&gt; &lt;tr style="text-align: left;"&gt; &lt;td style="text-align: left;" width="194"&gt; &lt;p style="text-align: center;"&gt;XN&lt;/p&gt; &lt;/td&gt; &lt;td style="text-align: left;" width="188"&gt; &lt;p style="text-align: center;"&gt;Ưu điểm&lt;/p&gt; &lt;/td&gt; &lt;td style="text-align: left;" width="199"&gt; &lt;p style="text-align: center;"&gt;Nhược điểm&lt;/p&gt; &lt;/td&gt; &lt;/tr&gt; &lt;tr style="text-align: left;"&gt; &lt;td style="text-align: left;" valign="top" width="194"&gt; &lt;p&gt;Thời gian chảy   máu&lt;/p&gt; &lt;/td&gt; &lt;td style="text-align: left;" valign="top" width="188"&gt; &lt;p&gt;Xét nghiệm trực   tiếp trên BN&lt;/p&gt; &lt;/td&gt; &lt;td style="text-align: left;" valign="top" width="199"&gt; &lt;p&gt;Không đặc hiệu,   không nhậy&lt;/p&gt; &lt;/td&gt; &lt;/tr&gt; &lt;tr style="text-align: left;"&gt; &lt;td style="text-align: left;" valign="top" width="194"&gt; &lt;p&gt;Đo 11 dehyro   thromboxane trong nước tiểu&lt;/p&gt; &lt;/td&gt; &lt;td style="text-align: left;" valign="top" width="188"&gt; &lt;p&gt;Phụ thuộc   cyclooxy genase-1, xét nghiệm tương quan với kết quả lâm sàng.&lt;/p&gt; &lt;/td&gt; &lt;td style="text-align: left;" valign="top" width="199"&gt; &lt;p&gt;Không đặc hiệu   cho tiểu cầu, đo gián tiếp, phụ thuộc chức năng thận. Giá trị chẩn đoán không   chắc chắn&lt;/p&gt; &lt;/td&gt; &lt;/tr&gt; &lt;tr style="text-align: left;"&gt; &lt;td style="text-align: left;" valign="top" width="194"&gt; &lt;p&gt;Đo kết tập tiểu cầu   bằng độ truyền quang&lt;/p&gt; &lt;/td&gt; &lt;td style="text-align: left;" valign="top" width="188"&gt; &lt;p&gt;Tiêu chuẩn vàng.&lt;/p&gt; &lt;p&gt;Tương quan với kết   quả lâm sàng&lt;/p&gt; &lt;/td&gt; &lt;td style="text-align: left;" valign="top" width="199"&gt; &lt;p&gt;Thời gian xét   nghiệm lâu, đắt tiền. Giá trị chẩn đoán thấp&lt;/p&gt; &lt;p&gt; &lt;/p&gt; &lt;/td&gt; &lt;/tr&gt; &lt;tr style="text-align: left;"&gt; &lt;td style="text-align: left;" valign="top" width="194"&gt; &lt;p&gt;Test chức năng tiểu   cầu Analyzer 100&lt;/p&gt; &lt;/td&gt; &lt;td style="text-align: left;" valign="top" width="188"&gt; &lt;p&gt;- Nhanh, đơn giản   tương quan với kết quả lâm sàng&lt;/p&gt; &lt;/td&gt; &lt;td style="text-align: left;" valign="top" width="199"&gt; &lt;p&gt;Phụ thuộc yếu tố   Von Willebrand và Hct. Không điều chỉnh được độ chính xác của máy ở mỗi lần đo&lt;/p&gt; &lt;/td&gt; &lt;/tr&gt; &lt;tr style="text-align: left;"&gt; &lt;td style="text-align: left;" valign="top" width="194"&gt; &lt;p&gt;Test nhanh "Verify   now Aspirin"&lt;/p&gt; &lt;/td&gt; &lt;td style="text-align: left;" valign="top" width="188"&gt; &lt;p&gt;- Đơn giản,   nhanh, tương quan với kết quả lâm sàng&lt;/p&gt; &lt;/td&gt; &lt;td style="text-align: left;" valign="top" width="199"&gt; &lt;p&gt;Không điều chỉnh được   độ chính xác của máy ở mỗi lần đo&lt;/p&gt; &lt;/td&gt; &lt;/tr&gt; &lt;/tbody&gt; &lt;/table&gt;&lt;br /&gt;&lt;/div&gt; &lt;div style="text-align: justify;"&gt;Định nghĩa kháng Aspirin theo tác dụng  dược học  là vẫn còn sản xuất TXA2 mặc dù đang điều trị với Aspirin. Sự  có mặt của TXA2 được đo thông qua các chất biến dưỡng của TXA2 trong  huyết thanh hoặc trong nước tiểu.&lt;br /&gt;Kết tập tiểu cầu vẫn tồn tại mặc dù  đang điều trị với Aspirin được định nghĩa là thất bại của Aspirin trong  ức chế kết tập tiểu cầu, Tuy nhiên sự kết tập tiểu cầu đôi khi vẫn xảy  ra mặc dù Aspirin đó ức chế hoàn toàn sự sản xuất ra TXA2, và sự kết tập  tiều cầu xảy ra theo con đường khác. Do đó danh từ “kháng Aspirin” đôi  khi vẫn chưa chính xác trong một số các trường hợp, như trong trường hợp  Aspirin ức chế sản xuất hoàn toàn TXA2 mà tiểu cầu vẫn có thể kết tập  gây huyết khối. Do đó danh từ “không đáp ứng” với điều trị Aspirin thích  hợp  hơn để chỉ sự thất bại của Aspirin trong cả 2 trường hợp : ức chế  sản xuất TXA2 và giảm kết tập tiểu cầu.&lt;br /&gt;&lt;strong&gt;2. Tần xuất kháng aspirin: &lt;/strong&gt;&lt;br /&gt;Tần  xuất kháng Aspirin hiện nay chưa được xác định rõ, theo các nghiên cứu  thì tần xuất kháng Aspirin dao động rất lớn từ 5% đến 60%, trong các  bệnh  nhân bị bệnh mạch máu não, bệnh mạch vành, sau mổ  bắc cầu hoặc  đặt stent mạch  vành và trong nhóm người bình thường. Sở dĩ tần xuất dao  động lớn như vậy vì hiện nay chưa có 1 chẩn đoán rõ ràng, chưa có 1  phương pháp xét nghiệm chuẩn để chẩn đoán kháng Aspirin.&lt;br /&gt;&lt;/div&gt; &lt;div style="text-align: justify;"&gt;&lt;br /&gt;&lt;/div&gt; &lt;div style="text-align: center;"&gt;&lt;img alt="Aspirin-h1" src="http://timmachhoc.vn/images/stories/tongquantimmach/Aspirin-h1.jpg" width="500" height="374" /&gt;&lt;br /&gt;&lt;/div&gt; &lt;div style="text-align: justify;"&gt;&lt;br /&gt;&lt;/div&gt; &lt;div style="text-align: justify;"&gt;&lt;strong&gt;C. CƠ CHẾ KHÁNG ASPIRIN:&lt;/strong&gt;&lt;br /&gt;&lt;strong&gt;1. Cơ chế kháng aspirin:&lt;/strong&gt;&lt;br /&gt;Mặc  dù cơ chế tác dụng ức chế tiểu cầu của Aspirin đã rõ, nhưng cơ chế  kháng Aspirin vẫn chưa hoàn toàn được sáng tỏ. Có nhiều yếu tố làm tiểu  cầu đáp ứng kém với Aspirin như yếu tố lâm sàng, di truyền, dược học,  sinh học. Yếu tố đơn giản nhất là bệnh nhân do dị ứng hoặc rối loạn tiêu  hoá không uống được Aspirin, hoặc giảm hấp thu Aspirin qua ruột. Hút  thuốc lá làm tăng kết dính tiểu cầu, tăng tạo huyết khối trên những bệnh  nhân đang điều trị bằng Aspirin. Thuốc kháng viêm không stiroid cạnh  tranh ức chế COX-1 của Aspirin, do đó làm giảm tác dụng của Aspirin; tuy  nhiên trên lâm sàng tác dụng cạnh tranh này không có ý nghĩa nhiều. Khi  sử dụng lâu ngày Aspirin cũng làm giảm tác dụng của Aspirin lên tiểu  cầu, cơ chế giảm tác dụng này vẫn chưa được làm rõ. Sau mổ bắc cầu ĐMV,  tiểu cầu được sản xuất nhiều hơn và dẫn đến có 1 tỷ lệ cao  tiểu cầu  không tiếp xúc được với Aspirin nên không bị ức chế. Con đường kết  tập  tiểu cầu thông qua những con đường khác ngoài TXA2 được coi như là 1 cơ  chế kháng Aspirin. Mặc dù Aspirin đã ức chế hoàn toàn sản xuất TXA2,  nhưng tiểu cầu vẫn bị hoạt hoá và kết dính qua tác dụng của ADP,  collagen và những yếu tố khác được coi là kháng Aspirine.&lt;br /&gt;Yếu tố di  truyền đóng vai trò quan trọng trong đáp ứng của tiểu cầu với Aspirin.  Đồng phân hình học của Cox-1, Cox-2, của tiếp nhận thể glycoprotein và  của tiếp nhận thể P2Y12 làm ảnh hưởng lên đáp ứng của tiểu cầu với  Aspirin. Yếu tố di truyền được cho là ảnh hưởng lên đáp ứng của tiểu cầu  đối với Aspirin nhiều hơn các yếu tố nguy cơ tim mạch khác (như cao  huyết áp, tiểu đường, tăng Cholesterol máu, hút thuốc lá, béo phì.&lt;br /&gt;&lt;strong&gt;2. Biểu hiện lâm sàng của kháng aspirin:&lt;/strong&gt;&lt;br /&gt;Nhiều nghiên cứu hiện nay cho thấy có mối tương quan giữa kháng Aspirin và những&lt;/div&gt; &lt;div style="text-align: justify;"&gt;&lt;br /&gt;&lt;/div&gt; &lt;div style="text-align: justify;"&gt;(biểu đồ 1). Grotemeyer nghiên cứu đáp  ứng với Aspirin sau khi uống 12giờ Aspirin 500mg trên 180 BN bị tai  biến mạch máu não. Những bệnh nhân với chỉ số hoạt hoá tiểu cầu dưới  1,25 được xếp vào nhóm đáp ứng với Aspirin, trong khi những bệnh nhân  với chỉ số hoạt hoá tiểu cầu trên 1,25 được xếp vào nhóm không đáp ứng  với Aspirin  (nghĩa là kháng Aspirin). Tất cả các bệnh nhân đều được cho  uống 500mg Aspirin, 3 lần/ ngày. Và được theo dõi trong 24 tháng. Tiêu  chí đánh giá chính là các biến cố lớn như lấp mạch não, NMCT, tử vong  tim mạch. Trong nghiên cứu:  Grotemeyer nhận thấy tỷ lệ bệnh nhân kháng  Aspirin là 33%. Có 174 BN (96%), được theo dõi đến 24 tháng. Trong nhóm  BN đáp ứng với Aspirin thì tỷ lệ biến cố như lấp mạch não, NMCT, tử vong  tim mạch ít hơn: 5 BN (4,4%) so với nhóm kháng Aspirin 24BN (40%) (P dưới 0,0001).&lt;br /&gt;Trong nghiên cứu của Grundman về đáp ứng với điều trị  Aspirin ngăn ngừa thiếu máu não thoáng qua hoặc lấp mạch não trên 53 BN  Grundman sử dụng máy phân tich chức năng tiểu cầu PFA – 100 (platedlet  Funtion Analyzer 100) để đánh giá tiểu cầu có đáp ứng với Aspirin  haykhông. Grundman  nhận thấy trong nhóm kháng Aspirin thì tỷ lệ bị biến  cố mạch máu não lần 2 cao hơn có ý nghĩa thống kê so với nhóm đáp ứng  Aspirin:12/35 BN (30%) so với 0/18 BN (0%) (P= 0,006).&lt;br /&gt;Muller nghiên  cứu trên 100BN có triệu chứng đau cách hồi và đã được  nong ĐM chân. Sau  nong mạch máu, tất cả các BN được cho uống 100 mg Aspirin mỗi ngày. Sử  dụng phương pháp đo kết tập tiểu cầu bằng độ truyền quang, tác giả định  nghĩa đáp ứng bình thường của tiểu cầu với điều trị Aspirin là khi làm  xét nghiệm có cho thêm ADP và collagen: có giảm ít nhất 20% số tiểu cầu  bị kết tập so với trước khi điều trị bằng Aspirin. Tỷ lệ kháng Aspirin  trong số BN được nghiên cứu của Muller lên đến gần 60%. Sau 52 tuần theo  dõi : Trong nhóm BN kháng Aspirin có đến 8 BN bị tắc lại mạch máu chân  tại chỗ đã nong so với không  có BN nào bị tái tắc mạch chân trong nhóm  đáp ứng với Aspirin.&lt;br /&gt;Eikeboon nghiên cứu 976 BN có nguy cơ tim mạch  cao từ nghiên cứu HOPE (Heart Protection Prevention Evaluation). Đáp ứng  với Aspirin được chia làm 2 nhóm dựa trên kết quả xét nghiệm mức độ 11-  dihydrothromboxane B2 trong nước tiểu (11 -  dehydrothromboxane B2   phản ánh sự sản xuất Thromboxan trong máu BN). Sau 5 năm theo dõi, những  BN trong nhóm tăng 11 dehydrothromboxane B2 có tăng 1,8 lần  biến  cố  tim mạch (tử vong, lấp mạch não, NMCT) so với nhóm có 11   dehydrothromboxane B2 nước tiểu thấp (odds Ratio [OR]:1,8&lt;br /&gt;p= 0,09).  Yếu tố tăng 11 dehydrothromboxane B2 nước tiểu gây biến cố tim mạch  nhiều hơn là độc lập và không phụ thuộc những nguy cơ tim mạch kinh điển  đã biết như cao HA, béo phì, tiểu đường, ít vận động, .... Trong nhóm  tăng 11 dehydrothromboxame B2 nước tiểu thì  nguy cơ NMCT tăng gấp 2  lần, tử vong tim mạch tăng 3,5 lần so với nhóm có 11 dehydrothromboxame  B2 nước tiểu thấp.&lt;br /&gt;Gum nghiên cứu đáp ứng với điều trị Asprin trên  326 BN bị bệnh tim mạch. tất cả các BN được cho uống 325 mg Aspirin mỗi  ngày trong ít nhất 7 ngày và kháng Aspirin được định nghĩa  khi trên 70%  tiểu cầu kết tập khi cho 10 mM ADP và trên 20% tiểu cầu kết tập khi cho  0,5 mg/l acid arachidonic vào mẫu máu thử của BN. Kháng Aspirin được  xác định trên 17 BN (5,21%). Trong thời gian theo dõi 1,8 năm, biến  cố  tim mạch lớn (tử vong,NMCT, tai biến mạch máu não) xuất hiện trên 4 BN  (24%) ở nhóm kháng  Aspirin và trên 30 BN (10%) ở nhóm đáp ứng với  Aspirin (P= 0,03). Phân tích đa biến các yếu tố nguy cơ khác như tuổi  cao, suy tim, số lượng tiểu cầu nhiều hay ít thì kháng Aspirin là một  yếu tố dự báo nguy cơ tim mạch độc lập (Hazard Ratro [HR] 4,14; 95%, CI  1,42 đến 12,06, P = 0,009).&lt;br /&gt;Chen nghiên cứu đáp ứng với điều trị   Aspirin trên 151 BN được nong mạch vành theo chương trình: tất cả BN  được uống 80 – 300 mg Aspirin ít nhất 7 ngày, kết hợp với clopidogen  liều nạp 300mg tối thiểu 12g trước can thiệp mạch vành, và khi nong mạch  vành BN được cho thêm heparin. Sử dụng test nhanh ”verify now Aspirine”  để xác định đáp ứng của tiểu cầu với điều trị Aspirin: nếu ARU trên 550  (Aspirin Reaction Unit) thì được coi như kháng Aspirin. Tác giả Chen  nhận thấy có 29 BN (19,2%) trong 151 BN có kháng với điều trị Aspirin.  Trong nhóm BN kháng Aspirin thì tỷ lệ bị hoại tử cơ tim tăng gấp 2,9 lần  so với nhóm đáp ứng với Aspirin (hoại tử cơ tim được xác định bởi mức  tăng CK-MB).&lt;br /&gt;Lev nghiên cứu đáp ứng Aspirin và Clopidogrel trên 150  BN được nong MV theo chương trình: Tất cả BN được cho uống 81- 325mg  Aspirin  ít nhất trong 1 tuần,  Clopidogrel liều nạp 300mg  trước khi  nong mạch vành và 75mg Clopidogrel mỗi ngày sau đó. Trong khi nong mạch  vành, Bivalirudin được sử dụng thay cho Heparin (vì Heparin có tác dụng  kích thích kết tập tiểu cầu trên 1 tỷ lệ nhỏ BN sau khi ngưng sử dụng  heparin). Mẫu máu được lấy sau khi uống liều nạp Clopidodeln từ 20- 24g,  Lev định nghĩa kháng Aspirin khi có ít nhất 2 tiêu chuẩn sau :&lt;br /&gt;1. Kết tập tiểu cầu trên 20% khi cho 0,5mg/ml acid arachidonic vào mẫu máu thử.&lt;br /&gt;2. Kết tập tiểu cầu trên 70% gây ra bởi 5µmol/L ADP.&lt;br /&gt;3. ARU (Aspirin Reaction unit) trên 550 khi thực hiện test nhanh kết tập tiểu cầu với chất gây kích tập là acid arachidonic.&lt;br /&gt;Kháng  Clopidogoed được định nghĩa khi tỷ lệ kết tậptiểu cầu trước khi uống  thuốc trừ tỷ lệ kết tập tiểu cầu sau khi uống thuốc dưới 10% với cả 2  liều ADP: 5 mmol/L và 20 mmol/L.&lt;br /&gt;Trong nghiên cứu của Lev tỷ lệ kháng  Aspirin là 12,7% và kháng clopidogrel là 24%. Trong nhóm kháng Aspirin  thì có 9 BN (47,4%) có kháng cả Clopidogel, và trong nhóm không kháng  Aspirin có 27 BN (20,6%) kháng clopidogel. Kết quả nong mạch vành, Lev  nhận thấy ở những BN có kháng Aspirin thì tỷlệ BN có CK–MB tăng cao  nhiều hơn ở nhóm BN không có kháng Aspirin (38,9% so với 8,3%; P =0,04) ở  nhóm BN có kháng Aspirin và Clopidogel  thì CK-MB tăng cao nhiều hơn  nhóm BN không kháng cả 2 loại thuốc (44,4% so với 15,8%; P= 0,05)&lt;br /&gt;Marcucci  nghiên cứu trên 146 BN bị NMCT cấp được nong mạch vành có uống liều nạp  Clopidogrel 300mg và chích tĩnh mạch 500mg Aspirin. Sau nong mạch vành,  tất cả BN được uống 100mg Aspirin và 75mg Clopidogrel mỗi ngày. Trong  khi nong , heparin không phân đoạn được sử dụng tác giả. Marcucci nhận  thấy có 28% số BN trong nghiên cứu có kháng Aspirin khi sử dụng test  nhanh đo chức năng tiểu cầu đáp ứng với Aspirin.&lt;br /&gt;Trong thời gian theo  dõi 1 năm, trong nhóm BN kháng với Aspirin thì tỷ lệ tử vong, tái NMCT  và tái thông mạch vành xuất hiện trên 43,9% số BN; trong khi đó ở nhóm  không kháng  Aspirin thì chỉ có 24,8% có biến cố tim mạch (tử vong, tái  NMCT, tái thông MV, P dưới 0,05). Các phân tích thống kê cho thấy kháng  Aspirin là yếu tố nguy cơ độc lập cho các biến cố tim mạch (HR 2,9; 95%  CI: 1,1 đến 9,2; P dưới 0,05).&lt;br /&gt;Tác giả Hobikoglu nghiên cứu đáp ứng  với Aspirin trên 140 BN hội chứng vành cấp bằng test nhanh PFA 100. Kết  quả nghiên cứu cho thấy ở nhóm BN kháng Aspirin thì biến cố  tim mạch  gộp (tử vong NMCT, tai biến mạch máu não và tái thông mạch máu) sau 20  kháng ở nhóm BN kháng Aspirin là 30%, cao hơn ở nhóm không kháng Aspirin  là 10% (HR 2,46; 95%, CI:1,18 đến 5,13; P= 0,006). Khi phân tích đa  biến, tác giả Hobikoghu phát hiện ra rằng kháng Aspirin là yếu tố độc  lập dự báo biến cố tim mạch (HR: 3,03 ; 95%: CI:1,06 đến 8.02 , P =  0,038).&lt;br /&gt;Chen theo dõi trên 468 BN bị bệnh mạch vành với thời gian dõi  trung bình 379 + 200 ngày. Tác giả Chen nhận thấy co đến 27,4% số BN bị  kháng với Aspirin và trong số BN kháng Aspirin thì tăng đáng kể tỷ lệ  tử vong tim mạch, NMCT, cơn đau thắt ngực không ổn định, cần phải nhập  viện, tai biến mạch máu não và thiếu máu não thoáng qua so với nhóm BN   không kháng Aspirin (15,3% so với 5,3%; HR 3,12; 95% CI 1,6 đến 5,91; P dưới 0,001). Phép kiểm thống kê cho thấy kháng Aspirin, tiểu đường, NNCT  trước đó và Hb thấp là những yếu tố nguy cơ độc lập dự báo biến cố tim  mạch.&lt;/div&gt; &lt;div style="text-align: justify;"&gt;&lt;br /&gt;&lt;/div&gt; &lt;div style="text-align: center;"&gt;&lt;a rel="rokbox[919 619]" target="_blank" title="Aspirin-h2.jpg" href="http://timmachhoc.vn/images/stories/tongquantimmach/Aspirin-h2.jpg"&gt;&lt;img alt="Aspirin-h2" src="http://timmachhoc.vn/images/stories/tongquantimmach/Aspirin-h2.jpg" width="500" height="337" /&gt;&lt;/a&gt;&lt;br /&gt;&lt;/div&gt; &lt;div style="text-align: center;"&gt;&lt;strong&gt; Biểu đồ 1: Tóm tắt tương quan giữa kháng Aspirin và kết qủa lâm sàng&lt;/strong&gt;&lt;br /&gt;&lt;/div&gt; &lt;div style="text-align: justify;"&gt;&lt;br /&gt;&lt;/div&gt; &lt;strong&gt;D. KẾT LUẬN: &lt;/strong&gt;&lt;br /&gt;Rất  nhiều nghiên cứu cho thấy đáp ứng ức chế tiểu cầu với Aspirin khác nhau  tùy theo bệnh nhân. Các nghiên cứu cũng cho thấy mối tương quan  giữa  kháng Aspirin hoặc đáp ứng thấp với Aspirin với biến cố tim mạch trên  các nhóm BN bị xơ vữa động mạch ổn định hoặc BN hội chứng vành cấp, sau  nong mạch vành hoặc sau nong mạch máu ngoại vi. Những BN kháng Aspirin  có biến cố tim mạch như tử vong tim mạch, NMCT, tai biến lấp mạch não,  phải tái can thiệp mạch máu,... nhiều hơn nhóm đáp ứng với điều trị  Aspirin&lt;br /&gt;Trong thực hành lâm sàng hiện nay, các BS cũng cần quan tâm  đến kháng Aspirin, cần đưa vào các test giúp phát hiện nhóm BN có kháng  Aspirin. Nếu những BN có kháng Aspirin cần có chiến lược điều trị bằng  những thuốc kháng kết tập tiểu cầu khác như sử dụng thêm Clopidogrel  trong phòng ngừa tiên phát huyết khối gây tắc mạch hoặc thêm 1 thuốc  chống kết tập tiểu cầu như Cilostazol, hoặc tăng liều duy trì của  Clopidogrel trên những BN sau nong mạch máu. Nghiên cứu ASCET (Aspirin  non responsiveness and Clopidogrel Endpoint trial) đang thực hiện trên  những bệnh nhân có tổn thương mạch vành đã được chụp mạch vành để đánh  giá xem nếu BN có kháng Aspirin thì sử dụng Clopodogel  có tốt hơn là  tiếp tục dùng Aspirin trên mục tiêu làm giảm biến cố tim mạch. Những  tiêu chí đánh giá trung gian đã được sử dụng trong các yếu tố nguy cơ  tim mạch như cao huyết áp (đo huyết áp động mạch), rối loạn mỡ máu (nồng  độ LDL Cholesterol, Triglyceride trong máu)..., thì trong tương lai đo  đáp ứng của tiểu cầu với thuốc ức chế tiểu cầu rất cần thiết và có vai  trò quan trọng trong điều trị và chọn lựa thuốc điều trị ức chế tiểu cầu  trên những BN tim mạch.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;strong&gt;TÀI LIỆU THAM KHẢO&lt;/strong&gt;&lt;br /&gt;1.     Loll PJ, Picot D, Garavito RM. The structural basis of aspirin activity  inferred from the crystal structure of inactivated prostaglandin H2  synthase. Nat Struct Biol 1995; 2: 637-643&lt;br /&gt;2.    Antithrombotic  Trialists’ Collaboration. Collaborative meta-analysis of randomised  trials of antiplatelet therapy for prevention of death, myocardial  infarction, and stroke in high risk patients. BMJ 2002; 324: 71-86.&lt;br /&gt;3.     Barnathan ES, Schwartz JS, Taylor L, et al. Aspirin and dipyridamole in  the prevention of acute coronary thrombosis complicating coronary  angioplasty. Circulation 1987; 76: 125-134.&lt;br /&gt;4.    Schwartz L,  Bourassa MG, Lesperance J, et al. Aspirin and dipyridamole in the  prevention of restenosis after percutaneous transluminal coronary  angioplasty. New Engl J Med 1988; 318: 1714-1719.&lt;br /&gt;5.    Lembo NJ,  Black AJR, Roubin GS, et al. Effect of pre-treatment with aspirin versus  aspirin plus dipyridamole on frequency and type of acute complications  of percutaneous transluminal coronary angioplasty. Am J Cardiol 1990;  65: 422-426.&lt;br /&gt;6.    Patrono C, Coller B, FitzGerald GA, Hirsh J, Roth  G. Platelet-active drugs: the relationships among dose, effectiveness,  and side effects. Chest 2004: 126: 234S-264S.&lt;br /&gt;7.    Grotemeyer KH,  Scharafinski HW, Husstedt IW. Two-year follow-up of aspirin responder  and aspirin non-responder: a pilot-study including 180 post-stroke  patients. Thromb Res 1993; 71: 397-403.&lt;br /&gt;8.    Pappas JM, Westengard  JC, Bull BS. Population variability in the effect of aspirin on platelet  function. Implications for clinical trials and therapy. Arch Pathol Lab  Med 1994; 118: 801-804.&lt;br /&gt;9.    Gum PA, Kottke-Marchant K, Poggio ED,  et al. Profile and prevalence of aspirin resistance in patients with  cardiovascular disease. Am J Cardiol 2001; 88: 230-235.&lt;br /&gt;10.     Eikelboom JW, Hirsh J, Weitz JI, Johston M, Yi Q, Yusuf S.  Aspirin-resistant thromboxane biosynthesis and the risk of myocardial  infarction, stroke, or cardiovascular death in patients at high risk for  cardiovascular events. Circulation 2002; 105: 1650-1655.&lt;br /&gt;11.     Helgason CM, Bolin KM, Hoff JA, et al. Development of aspirin resistance  in persons with previous ischemic stroke. Stroke 1994; 25: 2331-2336.&lt;br /&gt;12.     Lee PY, Leonard AD, Talbert RL, et al. Low-dose aspirin increases  aspirin resistance in patients with coronary artery disease. Am J Med  2005; 118: 723-727.&lt;br /&gt;13.    Pulcinelli FM, Pignatelli P, Celestini A,  et al. Inhibition of platelet aggregation by aspirin progressively  decrease in long-term treated patients. J Am Coll Cardiol 2004; 43:  979-984.&lt;br /&gt;14.    Zimmermann N, Wenk A, Kim U, et al. Function and  biochemical evaluation of platelet aspirin resistance after coronary  artery bypass surgery. Circulation 2003; 108: 542-547.&lt;br /&gt;15.    Weber  AA, Zimmermann KC, Meyer-Kirchrath J, Schror K. Cyclooxygenase-2 in  human platelets as a possible factor in aspirin resistance. Lancet 1999;  353:900.&lt;br /&gt;16.    Halushka M, Walker LP, Halushka PV. Genetic  variation in cyclooxygenase 1: effects on response to aspirin. Clin  Parmacol Ther 2003; 73: 122-130.&lt;br /&gt;17.    Cipollone F, Toniato E,  Martinotti S, et al. A polymorphism in the cyclooxygenase 2 gene as an  inherited protective factor against myocardial infarction and stroke.  JAMA 2004; 291: 2221-2228.&lt;br /&gt;18.    Michelson AD, Furman MI,  Goldschmidt-Clermont P, et al. Platelet GP IIIa PL(A) polymorphisms  display different sensitivities to agonists. Circulation 2000; 101:  1013-1018.&lt;br /&gt;19.    Macch L, Christiaens L, Brabant S, et al.  Resistance in vitro to low-dose aspirin is associated with platelet PLA1  (GP IIIa) polymorphism but not with C807T(GP Ia/IIa) and C-5T Kozak (GP  Ibalpha) polymorphisms. J Am Coll Cardiol 2003; 42: 1115-1119.&lt;br /&gt;20.    Jefferson BK, Foster JH, McCarthy JJ, et al. Aspirin resistance and a single gene. Am J Cardiol 2005; 95: 805-808.&lt;br /&gt;21.     Gum PA, Kottke-Marchant K, Poggio ED, et al. Profile and prevalence of  aspirin resistance in patients with cardiovascular disease. Am J Cadiol  2001; 88: 230-235.&lt;br /&gt;22.    Wang JC, Aucoin-Barry D, Manuelian D, et  al. Incidence of aspirin nonresponsiveness using the Ultegra Rapid  Platelet Function Assay-ASA. Am J Cardiol 2003; 92: 1492-1494.&lt;br /&gt;23.     Grundmann K, Jaschonek K, Kleine B, Dichgans J, Topka H. Aspirin  non-responder status in patients with recurrent cerebral ischemic  attacks. J Neurol 2003; 250: 63-66.&lt;br /&gt;24.    Mueller MR, Salat A,  StangL P, et al. Variable platelet response to low-dose ASA and the risk  of limb deterioration in patients submitted to peripheral arterial  angioplasty. Thromb Haemost 1997; 78: 1003-1007.&lt;br /&gt;25.    Gum PA,  Kottke-Marchant K, Welsh PA, White J, Topol EJ. A prospective, blinded  determination of the natural history of aspirin resistance among stable  patients with cardiovascular disease. J Am Coll Cardiol 2003; 41:  961-965.&lt;br /&gt;26.    Chen WH, Lee PY, Ng W, Tse HF, Lau CP. Aspirin  resistance is associated with a high incidence of myonecosis after  non-urgent percutaneuos coronary intervention despite clopidogrel  pretreatment. J Am Coll Cardiol 2004; 43: 1122-1126.&lt;br /&gt;27.    Lev EI,  Patel RT, Maresh KJ, et al. Aspirin and clopidogrel drug response in  patients undergoing percutaneous coronary intervention: the role of dual  drug resistance. J Am Coll Cardiol 2006; 47: 27-33.&lt;br /&gt;28.    Marcucci  R, Paniccia R, Antonucci E, et al. Usefulness of aspirin resistance  after percutaneous coronary intervention for acute myocardial infarction  in predicting one year major adverse coronary events. J Am Coll Cardiol  2006; 98: 1156-1159.&lt;br /&gt;29.    Hobikoglu GF, Norgaz T, Aksu H, et al.  The effect of acetylsalicylic acid resistanceon prognosis of patients  who have developed acute coronary syndrome during acetylsalicylic acid  therapy. Can J Cardiol 2007; 23: 207-208.&lt;br /&gt;30. Cheng WH, Cheng X, Lee  PY, et al. Aspirin resistance and adverse clinical events in patients  with coronary artery Disease. Am J Med 2007; 120: 631-635.&lt;div style="text-align: justify;"&gt;&lt;br /&gt;theo timmachhoc.vn&lt;br /&gt;&lt;p&gt;-----------------------------------&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Giảng Đường Y Khoa&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;a href="http://giangduongykhoa.blogspot.com/"&gt;http://giangduongykhoa.blogspot.com&lt;/a&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;a href="http://giangduongykhoa.net/"&gt;http://giangduongykhoa.net&lt;/a&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;-----------------------------------&lt;/p&gt;&lt;/div&gt;&lt;div class="blogger-post-footer"&gt;Giảng Đường Y Khoa - Nơi Hội Tụ Kiến Thức Y Khoa&lt;img width='1' height='1' src='https://blogger.googleusercontent.com/tracker/8347068896071358659-8516832343801773720?l=giangduongykhoa.blogspot.com' alt='' /&gt;&lt;/div&gt;</content><link rel='replies' type='application/atom+xml' href='http://giangduongykhoa.blogspot.com/feeds/8516832343801773720/comments/default' title='Đăng Nhận xét'/><link rel='replies' type='text/html' href='http://giangduongykhoa.blogspot.com/2010/12/khang-voi-ieu-tri-asprin.html#comment-form' title='0 Nhận xét'/><link rel='edit' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/8347068896071358659/posts/default/8516832343801773720'/><link rel='self' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/8347068896071358659/posts/default/8516832343801773720'/><link rel='alternate' type='text/html' href='http://giangduongykhoa.blogspot.com/2010/12/khang-voi-ieu-tri-asprin.html' title='Kháng với điều trị Asprin'/><author><name>Giảng Đường Y Khoa</name><uri>http://www.blogger.com/profile/01045762399869292181</uri><email>noreply@blogger.com</email><gd:image rel='http://schemas.google.com/g/2005#thumbnail' width='32' height='32' src='http://1.bp.blogspot.com/_iO0u_-8tJ8E/S95LXKfU_tI/AAAAAAAAAcY/p80KgeQ8pf0/S220/logo-1.png'/></author><thr:total>0</thr:total></entry><entry><id>tag:blogger.com,1999:blog-8347068896071358659.post-1668010952354337933</id><published>2010-12-19T05:28:00.000-08:00</published><updated>2010-12-19T05:28:00.426-08:00</updated><category scheme='http://www.blogger.com/atom/ns#' term='Nội Khoa - tim mạch'/><title type='text'>Chỉ dẫn mới cho điều trị tăng huyết áp đối với bệnh nhân nhập viện</title><content type='html'>&lt;p&gt;&lt;/p&gt;&lt;strong&gt;&lt;strong&gt;&lt;strong&gt;&lt;br /&gt;&lt;/strong&gt;&lt;/strong&gt;&lt;/strong&gt;&lt;div style="text-align: right;"&gt;&lt;strong&gt;BS. Nguyễn thanh Hiền&lt;/strong&gt;&lt;/div&gt; &lt;div style="text-align: justify;"&gt;&lt;strong&gt;I. Mở đầu:&lt;/strong&gt;&lt;br /&gt;JNC VII  định nghĩa tăng huyết áp (THA) là khi HA trên 140/80 mmHg (1). Theo  định nghĩa này, sẽ có khoảng một tỉ người trên thế giới bị THA và có  khoảng ¼ số bệnh  nhân (BN) nhập viện có THA. Ý nghĩa lâm sàng của THA  thay đổi từ không  quan trọng (có thể chưa cần can thiệp ngay) tới THA   cấp cứu (emergency hypertension) bắt buộc phải điều trị ngay. Hầu hết  các hướng dẫn hiện nay điều trị THA như JNC VII hay các hướng dẫn điều  trị THA của Châu Âu chủ yếu tập trung điều trị THA ở nhóm BN ngoại trú  và thường không nói nhiều về điều trị THA ở BN nằm viện (1-3). Do còn  thiếu các hướng dẫn điều trị cho các BN THA nhập viện, nhiều tác giả đã  phát triển cách tiếp cận đơn giản để điều trị BN THA nhập viện ở bất kỳ  mức độ nào, từ THA cấp cứu, THA khẩn trương tới THA không cấp cứu-không  khẩn trương (non-emergency, non-urgent hypertension). Bài viết dưới đây  giới thiệu cách tiếp cận mới trong điều trị THA đối với BN nhập viện  (hình 1). Phần này sẽ không bao gồm THA ở BN thai kỳ (viết riêng).&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;strong&gt;II. Chỉ dẫn chẩn đoán và điều trị:&lt;br /&gt;II.1. Đánh giá ban đầu:&lt;/strong&gt;&lt;br /&gt;-  Câu hỏi đầu tiên phải đặt ra khi một BN THA vào viện là: “Đây có phải  là THA có ý nghĩa hay không (significant hypertension)?”. THA có ý nghĩa  theo định nghĩa của bài này là khi THA có xu hướng dẫn tới những biến  cố xấu. Nó thường gặp  ở những BN THA độ III trở lên (JNC VI, ESC 2007),  nghĩa là HA tâm thu (HATTh) ³ 180 mmHg, hay HA tâm trương (HATTr) ³ 110  mmHg (2-4). THA “ý nghĩa” như vậy cần phải chẩn đoán phân biệt khỏi  tình trạng THA phản ứng hay THA không quan trọng có thể tự giảm được.  Muốn đạt được điều này các BS cần khám và hỏi bệnh kỹ để tìm phát hiện  những bằng chứng chứng tỏ THA này là cấp tính, nguy hiểm. Các triệu  chứng và dấu hiệu đặc biệt có thể giúp gợi ý bệnh và/hoặc tổn thương cơ  quan đích. Những BN kèm đau ngực cần nghi ngờ hội chứng mạch vành cấp  (ACS: acute coronary syndrome) hay hội chứng động mạch chủ cấp ( AAS:  acute aortic syndrome ), đau lưng gợi ý AAS, khó thở có thể là do phù  phổi hay suy hô hấp cấp. Các hội chứng thần kinh (TK) như co giật, mất ý  thức, hay dấu TK khu trú chứng tỏ BN bị đột quỵ…Cần đo HA cả 2 tư thế  (nếu được) để đánh giá tình trạng giảm thể tích hay tụt HA tư thế. Đo HA  cả 2 tay và chân, để giúp phát hiện sớm bóc tách động mạch chủ (ĐMC).  Khám tim mạch cần tập trung vào các biểu hiện của suy tim (ran ở phổi,  tĩnh mạch cổ nổi, gallop..) (2, 5 – 7)&lt;br /&gt;&lt;em&gt;&lt;strong&gt;Cần lưu ý là tất  cả BN với THA có ý nghĩa cần phải làm ECG, XQ tim phổi, và SAT ngay. Ở  những BN này, bước đầu tiên là xem BN có bị AAS hay đột quỵ hay  không?(2)&lt;/strong&gt;&lt;/em&gt;&lt;/div&gt; &lt;div style="text-align: justify;"&gt;&lt;br /&gt;&lt;/div&gt; &lt;div style="text-align: center;"&gt;&lt;strong&gt;Đánh giá ban đầu: hỏi bệnh và khám lâm sàng.&lt;br /&gt;&lt;/strong&gt;&lt;img alt="THA-h1" src="http://timmachhoc.vn/images/stories/tongquantimmach/THA-h1.jpg" width="436" height="569" /&gt;&lt;/div&gt; &lt;div style="text-align: center;"&gt;&lt;strong&gt;Hình 1. Hướng dẫn chẩn đoán và  xử trí  THA khi  BN đến viện. ANS: hội cứng TK cấp (acute neurolygy  syndrome). Acute Aortic Syndrome : AAS- Hội chứng động mạch chủ cấp.   RD: bệnh thận.TEE: transesophageal echocardiography- siêu âm tim qua  thực quản. ACS: Acute coronary syndrome. (2) &lt;/strong&gt;&lt;br /&gt;&lt;/div&gt; &lt;div style="text-align: justify;"&gt;&lt;br /&gt;&lt;strong&gt;II.2. Hội chứng động mạch chủ cấp (Acute Aortic Syndrome: AAS)&lt;/strong&gt;&lt;br /&gt; AAS là thuật ngữ bao gồm bóc tách ĐMC, tụ máu trong lòng mạch (intra  mural hematoma), và loét ĐMC triệu chứng. Tất cả các cơ chế làm yếu lớp  giữa của ĐMC dẫn tới sức căng thành cao hơn, có thể gây dãn ĐMC và hình  thành phình mạch, thậm chí gây xuất huyết trong thành mạch, bóc tách và  vỡ. Bóc tách ĐMC đòi hỏi có rách ở lớp nội mạc mà thường xảy ra trước  bởi thoái hóa lớp áo giữa hay hoại tử áo giữa dạng nang (cystic medial  necrosis) (8, 9).&lt;br /&gt;Tỷ lệ bóc tách ĐMC khoảng 2.6 – 3.5 trường  hợp/100000 năm. Trong nghiên cứu IRAD (International Registry of Acute  Aortic Dissection- nghiên cứu sổ bộ quốc tế về bóc tách ĐMC), có khoảng  2/3 là nam, tuổi trung bình là 63 tuổi (10).&lt;br /&gt;Biểu hiện lâm sàng của AAS rất khác nhau. Các dấu hiệu sau đây gợi ý BN THA có AAS (2, 8, 9):&lt;br /&gt;- Khởi phát đau ngực đột ngột nặng, lan sau lưng, cảm giác như xé ngực.&lt;br /&gt;-  Đau lan lên cổ và gây nhìn mờ nhiều khả năng bóc tách lan đến động mạch  (ĐM) cảnh, nếu BN có kèm cơn đau thắt ngực điển hình thì khả năng có  bóc tách cả động mạch vành (ĐMV).&lt;br /&gt;- Mạch và HA khác nhau ở tay và chân.&lt;br /&gt;- Ngất (chứng tỏ biến chứng nặng của bóc tách ĐMC như chèn ép tim cấp và giảm tưới máu não).&lt;br /&gt;&lt;strong&gt;Cận lâm sàng&lt;/strong&gt; (8, 9, 11):&lt;br /&gt;&lt;strong&gt;ECG:&lt;/strong&gt; có thể bình thường hay thay đổi ST, T không đặc hiệu, hoặc biến đổi kiểu thiếu máu, hay nhồi máu cơ tim cấp (trong type A).&lt;br /&gt;XQ  ngực thẳng (hạn chế trường hợp type B): trung thất giãn rộng trong  60-90% các trường hợp là dấu đặc trưng cho bóc tách ĐMC, có thể có tràn  dịch màng phổi, lệch ĐMC. Tuy nhiên, nếu XQ bình thường không loại trừ  chẩn đoán mà cần làm các xét nghiệm hình ảnh khác để chẩn đoán.&lt;br /&gt;&lt;strong&gt;CT SCAN&lt;/strong&gt;:  là thường dùng nhất  cho cả ĐMC ngực và bụng, có độ nhạy cảm 83-95%, độ  chuyên biệt 87-100% . Là một kỹ thuật nhanh và dễ thực hiện, sẵn có,  cung cấp những thông tin hữu ích cho điều trị phẫu thuật, điều trị nội  mạch và điều trị nội khoa. CT scan cho hình ảnh: Phân biệt được hai  lòng, vị trí miệng nối, phát hiện các dấu hiệu huyết khối trong lòng,  tràn dịch màng ngoài tim. Tuy nhiên hạn chế trong trường hợp suy thận,và  không không khảo sát được hệ mạch vành&lt;br /&gt;&lt;strong&gt;MRI: &lt;/strong&gt;là xét  nghiệm hình ảnh đáng tin cậy nhất, độ nhạy cảm và độ đặc hiệu là  95-100%. MRI cho rất nhiều thông tin hữu ích như  xác định lòng thật,  lòng giả, nắp bóc tách, lỗ thông nối. Các dấu hiệu khác: ĐMC dãn rộng  với thành dầy, lòng giả có huyết khối, đánh giá được có liên quan  các  mạch máu lớn hay hở chủ hay không. Tuy nhiên hạn chế là: không sẵn có,  thời gian thực hiện kéo dài trên 30 phút, không thực hiện được khi bệnh  nhân kích động, có cấy dụng cụ nhân tạo như máy tạo nhịp...&lt;br /&gt;&lt;strong&gt;SIÊU ÂM TIM QUA THỰC QUẢN (TEE ): &lt;/strong&gt;dễ  thực hiện, nhanh, di chuyển được, độ nhạy 98%, độ đặc hiệu 63-96%. TEE  giúp xác định: có thể xác định nắp bóc tách lớp áo trong và xác định  lòng thật, lòng giả, lỗ thông nối. Ngoài ra, TEE cũng giúp phát hiện các  dấu hiệu khác như huyết khối trong lòng giả, tràn dịch màng ngoài tim,  hở van ĐMC, động mạch vành đoạn gần... Hạn chế của TEE là không khảo sát  được ĐMC lên đoạn xa và quai ĐMC.&lt;br /&gt;Trong số các xét nghiệm nêu trên,   xét nghiệm đang được chọn lựa ban đầu thường nhất trên thế giới để chẩn  đoán bóc tách ĐMC là CT, tiếp đó là TEE. Theo điều tra IRAD thường sử  dụng nhất là CT (61% trường hợp), trong khi SAT chỉ sử dụng ở 33% trường  hợp.  MRI là xét nghiệm chẩn đoán có độ nhạy cao nhất nhưng chưa được  phổ biến vì không sẵn có và khó sử dụng ở những bệnh nhân cấp cứu.&lt;/div&gt; &lt;div style="text-align: justify;"&gt;&lt;br /&gt;&lt;div style="text-align: center;"&gt;&lt;strong&gt;Các bước chẩn đoán tóm tắt ở hình 2(8).&lt;/strong&gt;&lt;/div&gt; &lt;/div&gt; &lt;div style="text-align: center;"&gt;&lt;img alt="THA-h2" src="http://timmachhoc.vn/images/stories/tongquantimmach/THA-h2.jpg" width="435" height="576" /&gt;&lt;/div&gt; &lt;div style="text-align: center;"&gt;&lt;br /&gt;&lt;/div&gt; &lt;div style="text-align: justify;"&gt;&lt;br /&gt;&lt;/div&gt; &lt;div style="text-align: justify;"&gt;Điều trị (hình 3) (2, 8, 9):&lt;br /&gt;Trong  tình huống cấp cứu, các bước nên thực hiện bao gồm: ngăn chặn bóc tách  lan rộng, giảm vận động nắp áo trong, giảm tắc nghẽn động học các nhánh  ĐMC, giảm thiểu nguy cơ vỡ. Cần chuyển bệnh nhân đến khoa săn sóc đặc  biệt và nhanh chóng thiết lập đường truyền tĩnh mạch để cho thuốc điều  trị hạ áp và giảm đau. Mục tiêu là làm sao hạ huyết áp tâm thu xuống  khoảng 110mmHg/10-20- phút, kết hợp morphin với chẹn bêta tĩnh mạch,  chẹn kênh calcium hay các thuốc giãn mạch (như sodium nitroprusside hay  ức chế men chuyển). Nếu tăng huyết áp nhẹ chỉ cần dùng đơn trị liệu pháp  nhưng khi có THA nặng cần phải dùng đa trị liệu. Ví dụ: propranolol  1mg-10mg tiêm tĩnh mạch tới duy trì 3mg/h; hoặc labetalol 20mg bolus&lt;br /&gt;đưa tới duy  trì 20-80mg/10 phút, tổng liều 300mg hay truyền tĩnh mạch 0,5-2mg/phút;  hoặc esmolol 500mg/kg bolus sau đó truyền tĩnh mạch 50 mg/kg/ph tăng  dần đến 200mg/kg/ph; chuyển sang thuốc uống khi tần số tim £ 60l/ph. Bn  không dung nạp chẹn beta dùng chẹn kênh calcium thay thế. Thuốc thường  dùng là nicardipine.&lt;br /&gt;Trường hợp huyết áp tăng quá cao, thêm thuốc  dãn mạch bằng truyền tĩnh mạch sodium nitroprusside 0,25-0,5 µg/kg/ph  hay khởi đầu liều 20mg/ph, tối đa 800mg/ph (không sử dụng nếu không có  dùng ức chế bêta đồng thời).&lt;br /&gt;Tránh dùng thuốc tăng sức co bóp do tăng  stress thành ĐMC làm xấu đi tình trạng bóc tách. Khi có chỉ định dùng  thuốc vận mạch do tụt HA kháng trị&lt;br /&gt;dẫn tới norepinephrin hay phe-nylephrin. Có thể dùng dopamin liều thấp để cải thiện tưới máu thận khi cần.&lt;br /&gt;Điều  trị phẫu thuật cấp cứu cho BN bóc tách ĐMC type A do nguy cơ cao bị  biến chứng đe dọa tính mạng như hở van ĐMC cấp, chèn ép tim cấp, nhồi  máu cơ tim cấp. Tỷ lệ tử vong 1-2% sau khởi phát triệu chứng (do biến  chứng thần kinh, NMCT, thiếu máu mạc treo, suy thận cấp, thiếu máu chi). &lt;br /&gt;BN bóc tách týp B không biến chứng: Điều trị nội khoa là bước đầu  tiên với các thuốc hạ áp nêu trên. Khi BN ổn định, lý tưởng sau 24-48  giờ, chúng ta có thể chuyển sang thuốc đường uống. Chỉ định phẫu thuật  khi còn đau ngực kéo dài hay tái phát, bóc tách lan rộng sớm, biến chứng  thiếu máu ngoại biên hay bóc tách gây vỡ ĐMC.&lt;/div&gt; &lt;div style="text-align: justify;"&gt;&lt;br /&gt;&lt;/div&gt; &lt;div style="text-align: center;"&gt;&lt;strong&gt;Dùng test Δ hình ảnh để khẳng định Δ&lt;br /&gt;(CT scan ngực bụng với thuốc cản quang)&lt;br /&gt;&lt;/strong&gt;&lt;/div&gt; &lt;div style="text-align: center;"&gt;&lt;strong&gt;&lt;img alt="THA-h3" src="http://timmachhoc.vn/images/stories/tongquantimmach/THA-h3.jpg" width="500" height="580" /&gt;&lt;/strong&gt;&lt;/div&gt; &lt;div style="text-align: center;"&gt;&lt;strong&gt;Hình 3. Điều trị THA trong AAS (2)&lt;br /&gt;PT:  phẫu thuật; AAS: acute aortic syndrome; Δ: chẩn đoán; TM: tĩnh mạch;  HATTh: huyết áp tâm thu; TMCB: thiếu máu cục bộ; ĐMC: động mạch chủ.UC:  ức chế. RAS: rennin-angiotensin system&lt;br /&gt;&lt;/strong&gt;&lt;/div&gt; &lt;div style="text-align: justify;"&gt;&lt;br /&gt;&lt;/div&gt; &lt;div style="text-align: justify;"&gt;&lt;strong&gt;II. 3. Hội chứng TK cấp ( hình  4): (xem thêm: Đáp ứng THA ở BN đột quỵ cấp: sinh lý bệnh và điều trị.  Thời sự tim mạch  học tháng 12/2008) (12).&lt;/strong&gt;&lt;br /&gt;Đánh giá ban đầu  BN nghi ngờ hội chứng TK cấp là chụp CT não không cản quang. Nếu  xuất  huyết não (XHN), cần hội chẩn với BS Ngoại TK mạch máu để xem xét can  thiệp cấp cứu. Điều trị hạ áp phải rất nhanh (5 – 10 phút), để duy trì  HA ĐM trung bình 110 – 130 mmHg. Thuốc lựa chọn là chẹn b (chủ yếu là  Labetalol, hay ức chế Calcium tiêm TM như Nicardipine) (2, 5-7).&lt;br /&gt;Nếu  loại trừ XHN, vấn đề quan trọng tiếp theo là đánh giá xem có dấu TK khu  trú hay không. Ở đây, chúng ta cần phân biệt 2 tình trạng riêng biệt (2,  5, 13):&lt;br /&gt;(1). Đột quỵ thiếu máu – có bằng chứng tổn thương TK khu trú&lt;br /&gt;(2).  Hội chứng não do tăng HA – không kèm có tổn thương TK khu trú. Đây là  tình trạng THA nặng và đột ngột, kèm đau đầu dữ dội và thay đổi ý thức.  Các triệu chứng này sẽ hết khi HA giảm. Hội chứng não do THA thường gặp ở  người HA trước đây bình thường bị THA đột ngột. BN có biểu hiện phù não  (đau đầu, nôn, rối loạn ý thức, CT não có dấu hiệu phù não...) nhưng  không có dấu TK định vị.&lt;br /&gt;Điều trị 2 tình huống này là khác nhau: hội  chứng não do THA, điều trị hạ áp chỉ khi HA TTh  trên 220 mmHg và/hoặc  HA TTr trên 120 mmHg (khác với đột thiếu máu, nếu dùng thuốc tiêu huyết  khối thì phải hạ HA ngay khi HA TTh trên 185mmHg hay HA TTr trên  110mmHg). Tuy nhiên, điều trị hạ áp phải rất thận trọng. Nếu HA TTr trên  140 mmHg, tốt nhất là sử dụng Nitroprusside, với mục tiêu giảm HATTR 10  – 15%. Nếu HA TTr dưới 140 mmHg, dùng Labetalol hay Nicardipine TM, mục  tiêu hạ HA TTR 10 – 15% (13).&lt;br /&gt;Trong đột quỵ thiếu máu, điều trị xem  thêm bài Đáp ứng THA ở BN đột quỵ cấp: sinh lý bệnh và điều trị. Thời sự  tim mạch  học tháng 12/2008).&lt;br /&gt;&lt;strong&gt;II. 4. THA cấp cứu ở BN  tim mạch (TM) và thận cấp tính (hình 5):&lt;/strong&gt;&lt;br /&gt;THA  là yếu tố nguy cơ độc lập của bệnh mạch vành (BMV), suy tim, và suy  thận. Kiểm soát tốt HA giúp giảm nguy cơ này(1). BN nhập viện vì THA cấp  cứu có kèm ACS, suy tim hay suy thận cần phải điều trị ngay. Việc lựa  chọn hướng dẫn điều trị THA phối hợp các hội chứng này với nhau vì hầu  hết BN có ³ 2 biểu hiện này ở cùng một thời điểm (2).&lt;br /&gt;&lt;strong&gt;II. 4. 1. THA ở BN ACS&lt;/strong&gt;&lt;br /&gt;Theo  số liệu từ nghiên cứu SYMPHONY và 2nd SYMPHONY (observations from the  Sibrafibas vesus aspirin to Yield Maximum Protection from ischemic Heart  events postacute cOroNary sYndromes), trên khoảng 15.904 BN ACS, tỷ lệ  THA là khoảng 50%. Khác với các quan sát trong quần thể không chọn lọc,  trong số BN ACS ở nghiên cứu này, tỷ lệ THA ở nữ cao hơn ở nam (hình 5)  (14)&lt;br /&gt;Vì chưa có số liệu về điều trị THA ở BN ACS, đề nghị hiện nay  chủ yếu dựa vào sinh lý bệnh. Vấn đề cơ bản là đảm bảo cân bằng giữa  cung cấp và nhu cầu O2 cơ tim. Điều trị ban đầu gồm nghỉ ngơi, theo dõi  ECG liên tục, bổ sung O2, morphine nếu còn đau ngực, và an thần khi cần.  Thuốc hạ áp nên lựa là chẹn , ức chế men chuyển ( UCMC), lợi tiểu. Hầu  hết BN đòi hỏi ³ 2 thuốc khống chế HA để đạt mục tiêu. Vì 3 thuốc này  đều đã được chứng minh làm giảm nguy cơ tim mạch, nên có lý do để sử  dụng phối hợp cả 3 thuốc này khi cần thiết. Ở BN ACS có rối loạn (RL)  chức năng thất (T), đái tháo đường (ĐTĐ), suy tim, phải phối hợp chẹn   với UCMC (hoặc ức chế thụ thể nếu không dung nạp UCMC). Sử dụng UCMC  phải cẩn thận trong giai đoạn cấp của NMCT ở BN có tiền sử THA nhưng HA  thấp lúc nhập viện (dưới 120 mmHg) vì nguy cơ dễ bị tụt HA sau điều trị  (15).&lt;br /&gt;Đề nghị của hội HA Mỹ và hội dịch tễ và dự phòng tim mạch là (16):&lt;br /&gt;(1).  Điều trị bắt đầu bằng thuốc chẹn b chọn lọc tác dụng ngắn không có hoạt  tính giao cảm, thường dùng đường tĩnh mạch (TM), cùng với Nitrat để  kiểm soát triệu chứng. Nếu lúc đầu huyết động không ổn, không được dùng  chẹn b. Sau này, khi tình trạng BN ổn có thể bắt đầu dùng chẹn b.&lt;br /&gt;(2).  Nếu BN huyết động ổn, bổ sung UCMC hay ức chế thụ thể (ARB) đặc biệt  trong NMCT thành trước, hay nếu BN kèm RL chức năng thất (T), suy tim  hay ĐTĐ. Không nên phối hợp cả hai thuốc này vì tăng nguy cơ tác dụng  phụ và không mang lại lợi ích gì.&lt;br /&gt;(3). Kháng Aldosteron có thể có  ích trong điều trị NMCT có RL chức năng thất (T) và suy tim và có thể có  hiệu quả hạ áp. Tuy nhiên, cần theo dõi kỹ nồng độ kali máu.&lt;br /&gt;&lt;em&gt;&lt;strong&gt;(4). Mục đích là HA &lt;/strong&gt;&lt;/em&gt;&lt;span style="font-weight: bold; font-style: italic;"&gt;dưới&lt;/span&gt;&lt;em&gt;&lt;strong&gt; 130/80 mmHg. Ở BN với tăng HA TTr và ACS, HA phải hạ thấp từ từ, và chú ý không để HA TTr &lt;/strong&gt;&lt;/em&gt;&lt;span style="font-style: italic; font-weight: bold;"&gt;dưới&lt;/span&gt;&lt;em&gt;&lt;strong&gt; 60 mmHg.&lt;/strong&gt;&lt;/em&gt;&lt;/div&gt; &lt;div style="text-align: justify;"&gt;&lt;br /&gt;&lt;/div&gt; &lt;div style="text-align: center;"&gt;&lt;strong&gt;Thực hiện chẩn đoán hình ảnh não&lt;/strong&gt;&lt;br /&gt;&lt;img alt="THA-h4" src="http://timmachhoc.vn/images/stories/tongquantimmach/THA-h4.jpg" width="433" height="594" /&gt;&lt;/div&gt; &lt;div style="text-align: center;"&gt;&lt;strong&gt;Hình 4. Điều trị THA trong ANS.  Y: có; N: không; H/c: hội chứng; TK: thần kinh; PT: phẫu thuật; XH:  xuất huyết; MT: mục tiêu; HA: huyết áp; TB: trung bình; T/d: theo dõi;  TM: tĩnh mạch; TTh: tâm thu; TTr: tâm trương; TC: triệu chứng; BN: bệnh  nhân; TSH: tiêu sợi huyết.&lt;br /&gt;&lt;/strong&gt;&lt;br /&gt;&lt;/div&gt; &lt;div style="text-align: justify;"&gt;&lt;strong&gt;II. 4.2.  Điều trị THA ở BN suy tim&lt;/strong&gt;&lt;br /&gt;Trong  nghiên cứu ADHFRE (Acute Decompensated Heart Failure National  Registry), có khoảng 75 % BN nhập viện vì suy tim kèm THA. THA không  kiểm soát làm tăng nguy cơ gây suy tim và suy tim tiến triển, đặc biệt  khi có kèm thêm béo phì và ĐTĐ do làm tăng khối lượng cơ thất (T), dày  thành thất và bất thường đổ đầy tâm trương thất (T). Suy đổ  đầy thất  trái có thể gây ra các triệu chứng suy tim tâm trương do tăng áp lực  tĩnh mạch phổi và giảm công tim khi bất thường đổ đầy nặng. Suy chức  năng tâm trương bắt đầu bằng tăng dày thành thất, nhưng cuối cùng, tái  cấu trúc thất (T) kết hợp với tăng hoạt tính TK-hormone, tăng sức căng  thành, chết theo chương trình, mất tế bào, xơ hóa, giãn buồng tim, và  chức năng tâm thu giảm dẫn tới suy tim tâm thu (17, 18). Một số BN nhập  viện với bệnh  cảnh suy tim cấp (phù phổi) và tăng HA nhiều. Đây là 1  trong 5 thể của suy tim cấp (hình 6) gồm các triệu chứng và dấu hiệu suy  tim kèm theo HA cao và thường có chức năng tâm thu thất (T) bảo tồn. BN  thường có bằng chứng tăng trương lực giao cảm với mạch nhanh và co  mạch. BN có thể là đẳng thể tích hay chỉ quá tải thể tích nhẹ, và thường  hiện diện với các dấu hiệu sung huyết phổi không kèm dấu hiệu phù toàn  thân. Những BN này thường đáp ứng nhanh với điều trị thích hợp (19).&lt;br /&gt;Đề nghị điều trị THA cấp cứu /suy tim (2):&lt;br /&gt;(1).  Các thuốc đã được chứng minh cải thiện tiên lượng ở BN suy tim nhìn  chung cũng có tác dụng hạ áp. Nên điều trị bằng lợi tiểu, ACEIs hay ARB,  chẹn b, và kháng thụ thể Aldosterone.&lt;br /&gt;(2). Đặc biệt, trong suy tim  cấp có THA nên sử dụng Nitroglycerin, dùng lợi tiểu quai để kiểm soát  thể tích, nhưng nói chung là ít hạ HA hơn nhóm thiazide.&lt;br /&gt;(3). Lợi ích  của UCMC và ARB ở BN suy tim là tương đương. Mỗi thuốc đều có hiệu quả  hạ áp, và có thể phối hợp thuốc của 2 nhóm này để điều trị suy tim ở BN  THA.&lt;br /&gt;(4). Nếu dùng chẹn b, dùng Carvedilol, Metoprolol succinate, và Bisoprolol.&lt;br /&gt;(5). &lt;em&gt;&lt;strong&gt;Mục tiêu HA &lt;/strong&gt;&lt;/em&gt;&lt;span style="font-style: italic; font-weight: bold;"&gt;dưới&lt;/span&gt;&lt;em&gt;&lt;strong&gt; 130/80 mmHg, nhưng cần quan tâm hạ thấp hơn &lt;/strong&gt;&lt;/em&gt;&lt;span style="font-style: italic; font-weight: bold;"&gt;dưới&lt;/span&gt;&lt;em&gt;&lt;strong&gt; 120/80 mmHg, và nên đạt mục tiêu này  trong vòng 3h điều trị.&lt;/strong&gt;&lt;/em&gt;&lt;br /&gt; Một lưu ý trong điều trị THA ở BN suy tim cấp là ở nhóm BN bệnh cơ tim  phì đại. Những BN này nên điều trị bằng chẹn b hay chẹn kênh calcium  nondihydropyridine (nếu có chống chỉ định với chẹn β) và tránh dùng lợi  tiểu quai, nitroglycerin (18).&lt;br /&gt;Trình tự điều trị THA ở BN suy tim  nên là lợi tiểu quai, nitroglycerin,  block hệ RAA, và chẹn b. Ở BN có  cả ACS và suy tim cấp, trình tự điều trị thuốc nên là nitroglycerin,  tiếp theo là block RAA và chẹn b(khi BN ổn).&lt;br /&gt;Nên bổ sung kháng  Aldosteron (spironolactone, eplerenone) nếu BN có suy tim. Nếu chẹn b  chống chỉ định, có thể dùng đối kháng kênh calcium nondihydropyridine  thay thế (verapamil hay diltiazem) với điều kiện không có suy chức năng  thất (T) hay nhịp chậm. Các thuốc đối kháng calcium dihydropyridine thế  hệ hai như amlodipine và felodipine chưa được nghiên cứu trong BN NMCT  cấp tuy nhiên có thể sử dụng thuốc này với mục đích điều trị hạ áp khi  các thuốc chẹn b, UCMC, lợi tiểu không đủ kiểm soát HA. &lt;em&gt;&lt;strong&gt;Cần  phải kiểm soát HA tốt và nhanh để giảm nguy cơ xuất huyết nội sọ với BN  phải dùng các thuốc heparin và chống kết tập tiểu cầu&lt;/strong&gt;&lt;/em&gt; &lt;sup&gt;(2, 19)&lt;/sup&gt;.&lt;br /&gt;&lt;strong&gt;&lt;/strong&gt;&lt;/div&gt; &lt;div style="text-align: justify;"&gt;&lt;br /&gt;&lt;/div&gt; &lt;div style="text-align: justify;"&gt;&lt;strong&gt;II.4.3. THA ở BN suy thận (2, 20)&lt;/strong&gt;&lt;br /&gt;Suy  thận có thể là nguyên nhân hay hậu quả của THA. BN chạy thận nhân tạo  và đặc biệt những BN đang điều trị erythropoietin thường có THA nặng.  THA nặng cũng thường gặp ở BN được điều trị corticoid và cyclosporine.  Bệnh thận mạn đang là vấn đề sức khỏe toàn cầu và tỷ lệ BN suy thận và  suy thận điều trị bằng chạy thận hay ghép thận ngày càng tăng. Khoảng 3%  dân số người lớn có tăng creatinine máu (³ 1.6 mg% cho nam và 1.4 mg%  cho nữ) và 70% BN tăng creatinin máu có THA.&lt;br /&gt;Mục tiêu điều trị ban  đầu trong điều trị suy thận mới khởi phát kèm THA nặng là hạn chế tổn  thương thêm thận qua kiểm soát THA. Chọn thuốc tối ưu để điều trị hạ áp  khẩn cấp kèm suy thận cấp còn nhiều bàn cãi. Nitroprusside là thuốc được  dùng nhiều nhất nhưng có nguy cơ nhiễm độc cyamua và thiocyanua nếu  dùng kéo dài và liều cao. Các thuốc Fenoldopam, đồng vận dopamine-1 có  hiệu quả lợi tiểu, cải thiện suy thận nhưng chúng ta chưa có để dùng.  Các thuốc thay thế hiện nay là chẹn kênh calcium (Nicardipine TM) và các  thuốc block adrenergic. Lợi tiểu quai cũng có hiệu quả đặc biệt khi có  quá tải thể tích. &lt;em&gt;&lt;strong&gt;Chiến lược đề nghị là giảm 10 - 20% HA TB  trong 1 – 2h đầu, sau đó giảm thêm 10 – 15% trong 6 – 12h kế. Mục tiêu  giảm HATTh &lt;/strong&gt;&lt;/em&gt;&lt;span style="font-weight: bold; font-style: italic;"&gt;dưới&lt;/span&gt;&lt;em&gt;&lt;strong&gt; 140 mmHg/12h và hội chẩn sớm BS chuyên khoa Thận học.  Trình tự đề nghị thuốc là chẹn kênh calcium, block  α –β, lợi tiểu quai,  block hệ RAA và clonidine.&lt;/strong&gt;&lt;/em&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;strong&gt;II.5. THA thứ phát (2, 21)&lt;/strong&gt;&lt;br /&gt;Đối  với BN nhập viện kèm THA nặng, sau khi loại trừ nguyên nhân AAS, hội  chứng TK cấp, ACS, suy tim và suy thận cấp, chúng ta nên xem xét đến  nguyên nhân THA thứ phát. Những tình huống sau đây gợi ý THA nặng lần  này có nguyên nhân thứ phát:&lt;br /&gt;+ BN dưới 30 tuổi hay trên 50 tuổi.&lt;br /&gt;+ Đã dùng 3 thuốc hạ áp nhưng vẫn không kiểm soát được HA .&lt;br /&gt;+ BN đang được kiểm soát HA tốt, đột ngột tăng HA cao trở lại.&lt;br /&gt;+ HATTh ở chân lớn hơn ở tay trên 20 mmHg.&lt;br /&gt;+ Bằng chứng của dấu hiệu Cushing.&lt;br /&gt;+ Giảm K+ máu mà không dùng lợi tiểu.&lt;br /&gt;+ Tăng creatinine máu, âm thổi ở thận, hay phân tích nước tiểu có bất thường.&lt;/div&gt; &lt;div style="text-align: justify;"&gt;&lt;br /&gt;&lt;/div&gt; &lt;div style="text-align: center;"&gt;&lt;img alt="THA-h5" src="http://timmachhoc.vn/images/stories/tongquantimmach/THA-h5.jpg" width="500" height="558" /&gt;&lt;/div&gt; &lt;div style="text-align: center;"&gt;&lt;strong&gt;Hình 5. Điều trị THA ở BN bệnh tim mạch và bệnh lý thận cấp.&lt;br /&gt;&lt;/strong&gt;&lt;/div&gt; &lt;div style="text-align: justify;"&gt;&lt;br /&gt;&lt;/div&gt; &lt;div style="text-align: justify;"&gt;BCTPĐ: bệnh cơ tim phì đại; Y: có; N:  không; MT: mục tiêu; HATTh, HATTr: huyết áp tâm thu, tâm trương; UC: ức  chế; H/c: hội chẩn.&lt;br /&gt;&lt;/div&gt; &lt;div style="text-align: justify;"&gt;&lt;br /&gt;&lt;/div&gt; &lt;div style="text-align: center;"&gt;&lt;img alt="THA-h6" src="http://timmachhoc.vn/images/stories/tongquantimmach/THA-h6.jpg" width="500" height="708" /&gt;&lt;/div&gt; &lt;div style="text-align: justify;"&gt;Các BS có thể sử dụng chỉ dẫn ABCDE để giúp xác định nguyên nhân của THA thứ phát (hình 8).&lt;br /&gt;+ A: . Chính xác: đầu tiên phải đánh giá độ chính xác của đo HA. Kiểm tra lại HA và cách đo của nhân viên mình.&lt;br /&gt;. Apnea (hội chứng ngưng thở khi ngủ): cần kiểm tra xem BN có hội chứng này hay không.&lt;/div&gt; &lt;div style="text-align: justify;"&gt;+ B: Bruits (THA do mạch máu thận).  THA do mạch máu thận khi THA là hậu quả của giảm cung cấp máu tới thận.  Khoảng 60% bệnh mạch máu thận là do xơ vữa động mạch (XVĐM) thận. Khoảng  ½ BN THA do mạch máu thận sẽ có âm thổi ở bụng khi khám. Cần làm MRI  hay CT angiography để xác định chẩn đoán.&lt;br /&gt;+ C: Coarctation of the  aorta (hẹp eo ĐMC): là hẹp bẩm sinh lòng ĐMC, thường ngay trước ĐM dưới  đòn (T). Chẩn đoán dựa vào giảm HA chi dưới, tăng HA chi trên, khó thở  gắng sức và XQ ngực có dấu hiệu khuyết sườn, dãn ĐMC đoạn trên và hẹp  đoạn dưới (dấu hiệu số “3”).&lt;br /&gt;+ D: . Drugs (thuốc): nhiều thuốc gây THA (NSAID, corticoid, ức chế miễn dịch...).&lt;br /&gt;. Diet: chế độ ăn quá nhiều muối, quá nhiều năng lượng, gầy, mập phì đều có thể gây THA và làm kiểm soát HA khó khăn.&lt;br /&gt;+  E: Endocrine disorder: rối loạn nội tiết (u tủy thượng thận, cường  Aldosterone, hội chứng Cushing). Nếu nghi ngờ, cần hội chẩn ngay với BS  nội tiết.&lt;br /&gt;&lt;strong&gt;II. 6. THA trong bệnh viện (không khẩn cấp, không cấp cứu, hình 9) (2, 22)&lt;/strong&gt;&lt;br /&gt;Sau  khi loại bỏ tình trạng THA khẩn cấp và cấp cứu, chúng ta gọi những BN  này là THA trong bệnh viện hay THA không khẩn cấp- không cấp cứu. Đối  với đối tượng này, việc đầu tiên là loại bỏ THA phản ứng (reactive  hypertension) do nguyên nhân như đau, hồi hộp, rối loạn hô hấp, bí  tiểu... Cần giải quyết những tình trạng này trước khi điều trị hạ áp.&lt;br /&gt;BN  đã được chẩn đoán THA trước đây và đang điều trị thuốc nên sử dụng lại  các thuốc đã dùng trước đây. Nếu BN còn THA, phân BN thành 3 nhóm:  &lt;br /&gt;(1). THA nặng không tổn thương cơ quan đích:&lt;br /&gt; Là khi HA TTh trên 180 mmHg và/hoặc HATTr trên 120 mmHg. Mục tiêu là  giảm HA dưới 140/90 mmHg trong vòng 24h. Thuốc điều trị thường dùng là  ức chế kênh calcium, chẹn b, và ức chế hệ RAA. Thường phối hợp ít nhất 2  thuốc.&lt;br /&gt;(2). THA trung bình: là khi HATTh 150 – 179 mmHg và HATTr  100 – 119 mmHg. Mục đích điều trị và thuốc dùng cũng như trên, tuy nhiên  có thể dùng chế độ đơn trị liệu.&lt;br /&gt;(3). THA nhẹ: là khi HATTh 140 – 149 mmHg và HATTr 90 – 100 mmHg. Trường hợp này chỉ theo dõi, chưa điều trị đặc hiệu.&lt;br /&gt;&lt;/div&gt; &lt;div style="text-align: justify;"&gt;&lt;br /&gt;&lt;/div&gt; &lt;div style="text-align: center;"&gt;&lt;img alt="THA-h7" src="http://timmachhoc.vn/images/stories/tongquantimmach/THA-h7.jpg" width="419" height="521" /&gt;&lt;/div&gt; &lt;div style="text-align: center;"&gt;&lt;strong&gt;Hình 8. Sinh lý bệnh và chẩn đoán THA thứ phát&lt;br /&gt;RL: rối loạn; NT: nước tiểu; h: giờ; aldo: aldosterone.&lt;br /&gt;&lt;/strong&gt;&lt;br /&gt;&lt;/div&gt; &lt;div style="text-align: justify;"&gt;&lt;strong&gt;III.  Thuốc điều trị THA cấp cứu (5, 6, 7)&lt;/strong&gt;&lt;br /&gt; Hiện chưa có thử nghiệm lâm sàng đủ lớn để xác định điều trị thuốc tối  ưu cho BN THA cấp cứu, chủ yếu là vì số lượng không đủ, không thuần, và  có quá nhiều khác biệt về tổn thương cơ quan đích. Các thuốc thường dùng  nêu ở bảng dưới đây. Việc điều trị cơn tăng HA chủ yếu dựa theo cơ quan  đích bị tổn thương, biểu hiện của BN, điều kiện và kinh nghiệm của thầy  thuốc.&lt;/div&gt; &lt;div style="text-align: justify;"&gt;&lt;br /&gt;&lt;/div&gt; &lt;div style="text-align: center;"&gt;&lt;strong&gt;Bảng : Các thuốc hạ áp dùng đường tĩnh mạch:&lt;br /&gt;&lt;/strong&gt;  &lt;table style="border-collapse: collapse; width: 100%;" border="1" cellpadding="3" cellspacing="0"&gt; &lt;tbody style="text-align: left;"&gt; &lt;tr style="text-align: left;"&gt; &lt;td style="text-align: left;" width="121"&gt; &lt;p style="text-align: center;"&gt;&lt;strong&gt;Thuốc&lt;/strong&gt;&lt;/p&gt; &lt;/td&gt; &lt;td style="text-align: left;" width="132"&gt; &lt;p style="text-align: center;"&gt;&lt;strong&gt;Liều&lt;/strong&gt;&lt;/p&gt; &lt;/td&gt; &lt;td style="text-align: left;" width="151"&gt; &lt;p style="text-align: center;"&gt;&lt;strong&gt;Khởi phát / Thời gian tác dụng&lt;/strong&gt;&lt;/p&gt; &lt;/td&gt; &lt;td style="text-align: left;" width="124"&gt; &lt;p style="text-align: center;"&gt;&lt;strong&gt;Tác dụng phụ&lt;/strong&gt;&lt;/p&gt; &lt;/td&gt; &lt;td style="text-align: left;" width="132"&gt; &lt;p style="text-align: center;"&gt;&lt;strong&gt;Chỉ định&lt;/strong&gt;&lt;/p&gt; &lt;p style="text-align: center;"&gt;&lt;strong&gt;ưu tiên&lt;/strong&gt;&lt;/p&gt; &lt;/td&gt; &lt;/tr&gt; &lt;tr style="text-align: left;"&gt; &lt;td style="text-align: left;" width="121"&gt; &lt;h5&gt;Furosemide&lt;/h5&gt; &lt;p&gt;(LASIXÒ&lt;/p&gt; &lt;p&gt;ống 20mg)&lt;/p&gt; &lt;/td&gt; &lt;td style="text-align: left;" width="132"&gt; &lt;p&gt;20-40mg TM   trong 1-2', lặp lại với liều cao hơn nếu có suy tim, suy thận&lt;/p&gt; &lt;/td&gt; &lt;td style="text-align: left;" width="151"&gt; &lt;h6&gt;5-15' / 2-3 giờ&lt;/h6&gt; &lt;/td&gt; &lt;td style="text-align: left;" width="124"&gt; &lt;p&gt;Giảm thể tích, hạ Kali máu&lt;/p&gt; &lt;/td&gt; &lt;td style="text-align: left;" width="132"&gt; &lt;p&gt;Suy tim, Suy thận, có quá tải thể tích&lt;/p&gt; &lt;/td&gt; &lt;/tr&gt; &lt;tr style="text-align: left;"&gt; &lt;td style="text-align: left;" width="121"&gt; &lt;h5&gt;Nitroprusside&lt;/h5&gt; &lt;p&gt;(NITROPRESS&lt;/p&gt; &lt;p&gt;Ong bột   50mg)&lt;/p&gt; &lt;/td&gt; &lt;td style="text-align: left;" width="132"&gt; &lt;p&gt;TTM&lt;/p&gt; &lt;p&gt;0.25 - 10 mg/kg/phút&lt;/p&gt; &lt;/td&gt; &lt;td style="text-align: left;" width="151"&gt; &lt;h6&gt;Ngay lập tức /&lt;/h6&gt; &lt;p&gt;2 - 3' sau   khi truyền&lt;/p&gt; &lt;/td&gt; &lt;td style="text-align: left;" width="124"&gt; &lt;p&gt;Tụt HA, buồn nôn, nôn ói, dùng lâu ngày gây ngộ độc   cyanide, met Hb, tăng áp lực nội sọ.&lt;/p&gt; &lt;/td&gt; &lt;td style="text-align: left;" width="132"&gt; &lt;p&gt;Hở van động mạch chủ, hở van 2 lá, phẫu thuật tim, bệnh   não do THA&lt;/p&gt; &lt;/td&gt; &lt;/tr&gt; &lt;tr style="text-align: left;"&gt; &lt;td style="text-align: left;" width="121"&gt; &lt;h5&gt;Nitroglycerin&lt;/h5&gt; &lt;p&gt;(ISOKETÒ&lt;/p&gt; &lt;p&gt;ống 0,1%   10mg/10ml)&lt;/p&gt; &lt;p&gt; &lt;/p&gt; &lt;p&gt; &lt;/p&gt; &lt;/td&gt; &lt;td style="text-align: left;" width="132"&gt; &lt;p&gt;TTM 5 - 100 mg/phút&lt;/p&gt; &lt;/td&gt; &lt;td style="text-align: left;" width="151"&gt; &lt;p&gt;2 - 5'/ 5 - 10'&lt;/p&gt; &lt;/td&gt; &lt;td style="text-align: left;" width="124"&gt; &lt;p&gt;Nhức đầu, đỏ mặt, nhịp tim nhanh, met Hb, lờn thuốc&lt;/p&gt; &lt;/td&gt; &lt;td style="text-align: left;" width="132"&gt; &lt;p&gt;Nhồi máu cơ tim, cơn đau thắt ngực&lt;/p&gt; &lt;/td&gt; &lt;/tr&gt; &lt;tr style="text-align: left;"&gt; &lt;td style="text-align: left;" width="121"&gt; &lt;p&gt;&lt;strong&gt;&lt;em&gt;Nicardipine&lt;/em&gt;&lt;/strong&gt;&lt;/p&gt; &lt;p&gt;(LOXENÒ ống 10mg/10ml&lt;/p&gt; &lt;/td&gt; &lt;td style="text-align: left;" valign="top" width="132"&gt; &lt;p&gt;TM   10mg/10'.&lt;/p&gt; &lt;p&gt;Duy trì   TTM 0,5 - 2 mg/ giờ tùy tình trạng bệnh nhân, liều tối đa: 15mg/giờ&lt;/p&gt; &lt;/td&gt; &lt;td style="text-align: left;" width="151"&gt; &lt;p&gt;1 - 5'/ 15   - 30'; có thể trên 12 giờ nếu truyền lâu dài&lt;/p&gt; &lt;/td&gt; &lt;td style="text-align: left;" width="124"&gt; &lt;p&gt;Nhịp tim nhanh, buồn nôn, nôn ói, nhức đầu, tăng áp lực nội   sọ, hạ HA kéo dài&lt;/p&gt; &lt;/td&gt; &lt;td style="text-align: left;" valign="top" width="132"&gt; &lt;p&gt;Bệnh não do THA&lt;/p&gt; &lt;/td&gt; &lt;/tr&gt; &lt;tr style="text-align: left;"&gt; &lt;td style="text-align: left;" width="121"&gt; &lt;h5&gt;Verapamil&lt;/h5&gt; &lt;p&gt;(ISOPTINEÒ ống   5mg/2ml)&lt;/p&gt; &lt;/td&gt; &lt;td style="text-align: left;" width="132"&gt; &lt;p&gt;TM 5-10mg&lt;/p&gt; &lt;p&gt;Duy trì   TTM 3-25mg/giờ&lt;/p&gt; &lt;/td&gt; &lt;td style="text-align: left;" width="151"&gt; &lt;p&gt;1-5'/ 30-60'&lt;/p&gt; &lt;/td&gt; &lt;td style="text-align: left;" width="124"&gt; &lt;p&gt;Nhịp chậm,   blốc tim (đặc biệt khi dùng chung với digitalis hay ức chế beta)&lt;/p&gt; &lt;/td&gt; &lt;td style="text-align: left;" width="132"&gt; &lt;p&gt;Nhịp tim nhanh và/hoặc TMCT&lt;/p&gt; &lt;/td&gt; &lt;/tr&gt; &lt;tr style="text-align: left;"&gt; &lt;td style="text-align: left;" width="121"&gt; &lt;h5&gt;Labetolol&lt;/h5&gt; &lt;p&gt;(TRANDATEÒ&lt;/p&gt; &lt;p&gt;Ong   100mg/20ml)&lt;/p&gt; &lt;/td&gt; &lt;td style="text-align: left;" width="132"&gt; &lt;p&gt;TM 20-80mg   (hay 1mg/kg) mỗi 5-10', max 300mg&lt;/p&gt; &lt;p&gt;Duy   trì  0,5-2mg/ phút trong 8 - 12 giờ&lt;/p&gt; &lt;/td&gt; &lt;td style="text-align: left;" width="151"&gt; &lt;p&gt;5 - 10'/ 2 - 6 giờ&lt;/p&gt; &lt;/td&gt; &lt;td style="text-align: left;" width="124"&gt; &lt;p&gt;Co thắt phế   quản, blốc tim, suy tim, tụt HA tư thế&lt;/p&gt; &lt;/td&gt; &lt;td style="text-align: left;" width="132"&gt; &lt;p&gt;Bệnh não do THA&lt;/p&gt; &lt;p&gt;Tai biến mạch máu não&lt;/p&gt; &lt;/td&gt; &lt;/tr&gt; &lt;/tbody&gt; &lt;/table&gt;&lt;br /&gt;&lt;/div&gt; &lt;div style="text-align: justify;"&gt;&lt;strong&gt;· Lưu ý trong điều trị: &lt;/strong&gt;&lt;br /&gt;* Bệnh nhân THA cấp cứu cần được nhập viện, điều trị và theo dõi ở phòng săn sóc tích cực khoa tim mạch.&lt;br /&gt;* Kiểm soát tổn thương cơ quan đích tiến triển/cấp tính quan trọng hơn là trị số tuyệt đối của HA.&lt;br /&gt;Tổn  thương cơ quan đích có thể xảy ra hay tiến triển nặng thêm do giảm HA  quá nhanh. Nếu triệu chứng xấu hơn trong quá trình hạ HA, tốc độ giảm HA  phải chậm lại hay phải ngưng tạm thời.&lt;br /&gt;&lt;/div&gt; &lt;div style="text-align: justify;"&gt;&lt;br /&gt;&lt;/div&gt; &lt;div style="text-align: center;"&gt;&lt;img alt="THA-h8" src="http://timmachhoc.vn/images/stories/tongquantimmach/THA-h8.jpg" width="439" height="500" /&gt;&lt;br /&gt;&lt;/div&gt; &lt;div style="text-align: justify;"&gt;&lt;br /&gt;&lt;/div&gt; &lt;strong&gt;Tài liệu tham khảo&lt;/strong&gt;&lt;br /&gt;1.    JNC VII - 2003.&lt;br /&gt;2.     Herzog E. et al: A Novel Pathway for the Management of Hypertension for  Hospitalized Patients. Crit Pathways in Cardiol 2007; 6: 150 – 160.&lt;br /&gt;3.    ESC and ESH guideline: 2007 guideline for the management of arterial hypertension.&lt;br /&gt;4.    JNC VI – 1997.&lt;br /&gt;5.     Shakarb. UR et al: Hypertensive Emergencies and Urgencies. In Black  HR  and Elliot. WJ: Hypertension: A Comparison to Braunwald’s Heart  Disease. Sauders 2007; p: 517 – 526.&lt;br /&gt;6.    Aggarwal. M et Khan IA: Hypertensive Crisis: Hypertensive Emergencies and Urgencies. Cardio Clin 2006; 24: 135 – 146.&lt;br /&gt;7.     Elliot. W: Hypertensive Crisis. In Parorllo. JE and Delliger. RP:  Critical Care Medicine. Principles of Diagnosis and Management in Adult  2th 2001; p: 670 – 683.&lt;br /&gt;8.    Vilacosta.I et al: Acute Aortic Syndrome:New sight to an old conundrum. Heart online. 8 Jan 2009.&lt;br /&gt;9.    Tsai T.T et al: Acute Aortic Syndromes. Circulation 2005; 112: 3802 – 3813.&lt;br /&gt;10.     Hagan PG et al: The International Registry of Acute Aortic Dissection  (IRAD): New Isights Into an old disease. JAMA 200; 283 (7); 897 – 903.&lt;br /&gt;11.    Moore. AG et al: Choice of CT, TEE, MRI and aortography in Acute aortic dissection. Am J Cardiol 2002; 89: 1235 – 1238.&lt;br /&gt;12.     Nguyễn thị kim Liên, Nguyễn thanh Hiền: Đáp ứng THA ở BN đột quỵ cấp:  sinh lý bệnh và điều trị. Thời sự tim mạch  học tháng 12/2008.&lt;br /&gt;13.    Kaplan. NM; Flynn JT: Caplan’s clinical Hypertension. 2006; p: 311 – 324.&lt;br /&gt;14.     Frazier C.G et al: Prevalence and management of Hypertension in acute  coronary syndrome patients varies by sex: observations from Sibrafiban  versus aspirin to Yield Maximum Protection from Ischemic Heart events  postacute cOroNary sYndromes (SYMPHONY) randomized clinical trials. Am  Heart J 2005; 150: 1260 – 1267.&lt;br /&gt;15.    Rosendorff. C: Ischemic Heart  Disease in Hypertension. . In Black  HR and Elliot. WJ: Hypertension: A  Comparison to Braunwald’s Heart Disease. Sauders 2007; p: 327 – 339.&lt;br /&gt;16.     Rosendorff. C et al: Treatment of Hypertension in the Prevention and  Management of Ischemic Heart Disease. A Sientific Satement From the AHA  Councils on Clinical Cardiology and Epidemiology and Prevention.  Circulation 2007; 115: 2761 – 2783.&lt;br /&gt;17.    Freudenberger. RS and  John. BK: Heart Failure in Hypertension. . In Black  HR and Elliot. WJ:  Hypertension: A Comparison to Braunwald’s Heart Disease. Sauders 2007;;  p: 340 – 350.&lt;br /&gt;18.    Giles. T. D: Heart Failure as a Consequence of  Hypertension. IN Mann DL: Heart Failure. A companion to Braunwald’s  Heart Disease. 2004; p: 405 – 414.&lt;br /&gt;19.    ESC Guidelines for the diagnosis and treatment of acute and chronic heart failure 2008.&lt;br /&gt;20.     Choi. KL and Bakris. GL: Kidney disease in Hypertension. . In Black  HR  and Elliot. WJ: Hypertension: A Comparison to Braunwald’s Heart  Disease. Sauders 2007;; p: 350 – 360.&lt;br /&gt;21.    Kaplan. N.M: Systemic  Hypertension Mechanisms and diagnosis. In Zipes. DP et al: Braunwald’s  Heart Disease. 8th 2008; p: 1027-1048.&lt;br /&gt;Melissa M Wu., Arjun Chanmugam: Hypertension. Emergency Medicine – 5th ed. – 2000; 401-412.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;strong&gt;&lt;strong&gt;&lt;strong&gt;theo timmachhoc.vn&lt;br /&gt;&lt;/strong&gt;&lt;/strong&gt;&lt;/strong&gt;&lt;p&gt;&lt;strong&gt;&lt;strong&gt;&lt;strong&gt;-----------------------------------&lt;/strong&gt;&lt;/strong&gt;&lt;/strong&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;strong&gt;&lt;strong&gt;&lt;strong&gt;Giảng Đường Y Khoa&lt;/strong&gt;&lt;/strong&gt;&lt;/strong&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;strong&gt;&lt;strong&gt;&lt;strong&gt;&lt;a href="http://giangduongykhoa.blogspot.com/"&gt;http://giangduongykhoa.blogspot.com&lt;/a&gt;&lt;/strong&gt;&lt;/strong&gt;&lt;/strong&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;strong&gt;&lt;strong&gt;&lt;strong&gt;&lt;a href="http://giangduongykhoa.net/"&gt;http://giangduongykhoa.net&lt;/a&gt;&lt;/strong&gt;&lt;/strong&gt;&lt;/strong&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;strong&gt;&lt;strong&gt;&lt;strong&gt;-----------------------------------&lt;/strong&gt;&lt;/strong&gt;&lt;/strong&gt;&lt;/p&gt;&lt;div class="blogger-post-footer"&gt;Giảng Đường Y Khoa - Nơi Hội Tụ Kiến Thức Y Khoa&lt;img width='1' height='1' src='https://blogger.googleusercontent.com/tracker/8347068896071358659-1668010952354337933?l=giangduongykhoa.blogspot.com' alt='' /&gt;&lt;/div&gt;</content><link rel='replies' type='application/atom+xml' href='http://giangduongykhoa.blogspot.com/feeds/1668010952354337933/comments/default' title='Đăng Nhận xét'/><link rel='replies' type='text/html' href='http://giangduongykhoa.blogspot.com/2010/12/chi-dan-moi-cho-ieu-tri-tang-huyet-ap.html#comment-form' title='0 Nhận xét'/><link rel='edit' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/8347068896071358659/posts/default/1668010952354337933'/><link rel='self' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/8347068896071358659/posts/default/1668010952354337933'/><link rel='alternate' type='text/html' href='http://giangduongykhoa.blogspot.com/2010/12/chi-dan-moi-cho-ieu-tri-tang-huyet-ap.html' title='Chỉ dẫn mới cho điều trị tăng huyết áp đối với bệnh nhân nhập viện'/><author><name>Giảng Đường Y Khoa</name><uri>http://www.blogger.com/profile/01045762399869292181</uri><email>noreply@blogger.com</email><gd:image rel='http://schemas.google.com/g/2005#thumbnail' width='32' height='32' src='http://1.bp.blogspot.com/_iO0u_-8tJ8E/S95LXKfU_tI/AAAAAAAAAcY/p80KgeQ8pf0/S220/logo-1.png'/></author><thr:total>0</thr:total></entry><entry><id>tag:blogger.com,1999:blog-8347068896071358659.post-1614255026200105280</id><published>2010-12-18T05:26:00.000-08:00</published><updated>2010-12-18T05:26:00.279-08:00</updated><category scheme='http://www.blogger.com/atom/ns#' term='Nội Khoa - tim mạch'/><title type='text'>Tăng huyết áp ở người Châu Á</title><content type='html'>&lt;p&gt;&lt;/p&gt;&lt;div style="text-align: right;"&gt;&lt;strong&gt;ThS. Hồ Huỳnh Quang Trí&lt;br /&gt;Viện Tim TP.HCM&lt;/strong&gt;&lt;/div&gt; &lt;div style="text-align: justify;"&gt;&lt;strong&gt;ẢNH HƯỞNG CỦA TĂNG HUYẾT ÁP ĐỐI VỚI NGƯỜI CHÂU Á&lt;/strong&gt;&lt;br /&gt;Hướng  dẫn điều trị tăng huyết áp của các hội chuyên khoa luôn nhấn mạnh là  tăng huyết áp không được kiểm soát tốt làm tăng nguy cơ bị các biến cố  mạch vành nặng và đột quị 1,2. Tuy nhiên hầu hết các nghiên cứu dịch tễ  làm cơ sở để đưa ra kết luận này đã được tiến hành tại Hoa Kỳ và các  nước Châu Âu 3-5. Ở dân số Châu Á, đặc biệt là vùng Đông Á, cho đến gần  đây vẫn chưa có nhiều thông tin về ảnh hưởng bất lợi của tăng huyết áp.&lt;br /&gt;Năm  1999 nhiều nhóm nghiên cứu ở các quốc gia thuộc khu vực Châu Á – Thái  Bình Dương đã quyết định cộng tác với nhau để tiến hành một chương trình  nghiên cứu có qui mô cả khu vực mang tên Asia Pacific Cohort Studies  Collaboration (viết tắt là APCSC). Mục tiêu của APCSC là xác định liệu  các yếu tố đã được chứng minh là yếu tố nguy cơ tim mạch ở dân số Âu Mỹ  (tăng huyết áp, tăng cholesterol, đái tháo đường v.v…) có làm tăng nguy  cơ bị các biến cố tim mạch nặng ở người vùng Châu Á – Thái Bình Dương  hay không.&lt;br /&gt;Năm 2003 nhánh huyết áp của APCSC được công bố và cung  cấp những thông tin hết sức quan trọng đối với các thầy thuốc trong khu  vực. Trong nhánh nghiên cứu này, các tác giả đã tập hợp số liệu từ tất  cả các nghiên cứu dịch tễ thỏa mãn các tiêu chuẩn sau: (1) Dân số nghiên  cứu thuộc vùng Châu Á – Thái Bình Dương; (2) Nghiên cứu được thiết kế  theo kiểu đoàn hệ tiền cứu; (3) Có ít nhất 5.000 người-năm theo dõi; (4)  Ngày sinh (hoặc tuổi), giới và huyết áp được ghi nhận từ đầu 6. Các  biến cố dùng để đánh giá dự hậu gồm đột quị không chết, nhồi máu cơ tim  không chết và chết do nguyên nhân tim mạch. Trong phần thống kê, hồi qui  Cox được dùng để đánh giá ảnh hưởng của huyết áp tâm thu trên tần suất  biến cố sau khi đã hiệu chỉnh theo các yếu tố nguy cơ khác.&lt;br /&gt;Các tác  giả đã tập hợp được số liệu của 37 nghiên cứu đoàn hệ: 14 nghiên cứu ở  Trung Quốc lục địa, 12 nghiên cứu ở Nhật, 2 nghiên cứu ở Đài Loan, 1  nghiên cứu ở Hong Kong, 2 nghiên cứu ở Singapore, 1 nghiên cứu ở Hàn  Quốc, 1 nghiên cứu ở New Zealand và 4 nghiên cứu ở Úc. Tổng số người  tham gia là 425.325 và tổng số người-năm theo dõi là 3.016.553 (thời  gian theo dõi trung bình là 7,1 năm). Tuổi trung bình của những người  tham gia là 47, có 43% là nữ. Những người tham gia từ Úc và New Zealand  (chủng tộc da trắng) chiếm tỉ lệ 17%.&lt;br /&gt;Kết quả APCSC cho thấy có một  mối tương quan tuyến tính liên tục giữa huyết áp tâm thu và nguy cơ bị  cả 3 biến cố đột quị không chết, nhồi máu cơ tim không chết và chết do  nguyên nhân tim mạch. Mối tương quan này được quan sát đến mức huyết áp  tâm thu thấp nhất là 115  mm Hg. Ở các lứa tuổi dưới 60, 60-69 và ³ 70,  ứng với mỗi mức huyết áp tâm thu thấp hơn 10 mm Hg, mức giảm nguy cơ đột  quị lần lượt là 54% (KTC 95% 53-56%), 36% (34-38%) và 25% (22-28%) và  mức giảm nguy cơ nhồi máu cơ tim lần lượt là 46% (43-49%), 24% (21-28%)  và 16% (13-20%). Các mức giảm nguy cơ này tương tự ở nam và nữ.&lt;br /&gt;Các  tác giả cũng đã so sánh ảnh hưởng của huyết áp tâm thu đối với nguy cơ  đột quị và tử vong tim mạch của người Châu Á và người Úc-New Zealand.  Kết quả phân tích cho thấy tăng huyết áp làm tăng nguy cơ đột quị ở  người Châu Á rõ hơn ở người Úc-New Zealand: Ứng với mỗi mức huyết áp tâm  thu thấp hơn 10 mm Hg, nguy cơ đột quị giảm 41% (40-42%) ở người Châu Á  và 30% (22-37%) ở người Úc-New Zealand. Người Châu Á chết do nguyên  nhân tim mạch ở tuổi trung bình 70, còn người Úc-New Zealand chết do  nguyên nhân tim mạch ở tuổi trung bình 75. Sau khi hiệu chỉnh theo tuổi,  các tác giả ghi nhận ứng với mỗi mức huyết áp tâm thu thấp hơn 10 mm  Hg, nguy cơ chết do nguyên nhân tim mạch giảm 30% (29-31%) ở người Châu Á  và giảm 28% (17-38%) ở người Úc-New Zealand. Có một khác biệt rất đáng  ghi nhận giữa 2 nhóm chủng tộc là ở người Châu Á tỉ lệ chết do đột quị  cao hơn tỉ lệ chết do bệnh mạch vành, trong khi ở người Úc-New Zealand  tỉ lệ chết do bệnh mạch vành cao hơn tỉ lệ chết do đột quị.&lt;br /&gt;Kết quả  APCSC cung cấp 2 thông tin rất quan trọng. Thông tin thứ nhất là ở người  Châu Á tăng huyết áp cũng có ảnh hưởng xấu trên dự hậu, làm tăng nguy  cơ tử vong và biến cố tim mạch nặng giống như ở người Âu-Mỹ. Thông tin  thứ hai là ở người Châu Á tăng huyết áp làm tăng nguy cơ đột quị và chết  do đột quị nhiều hơn so với ở người chủng tộc da trắng.&lt;br /&gt;&lt;/div&gt; &lt;div style="text-align: justify;"&gt;&lt;br /&gt;&lt;/div&gt; &lt;div style="text-align: center;"&gt;&lt;img alt="THACA-h1" src="http://timmachhoc.vn/images/stories/tongquantimmach/THACA-h1.jpg" width="500" height="366" /&gt;&lt;/div&gt; &lt;div style="text-align: center;"&gt;&lt;strong&gt;Hình 1: Phần trên : Tương quan  giữa huyết áp tâm thu với nguy cơ chết do nguyên nhân tim mạch ở người  Châu Á (Asia) và người Úc-New Zealand (Australasia). Phần dưới : Tỉ lệ  chết do đột quị (total stroke, cột màu trắng), do bệnh mạch vành  (ischaemic heart disease, cột sọc) và do các nguyên nhân tim mạch khác  (other cardiovascular, cột màu đen).&lt;/strong&gt;&lt;br /&gt;&lt;/div&gt; &lt;div style="text-align: justify;"&gt;&lt;br /&gt;&lt;/div&gt; &lt;div style="text-align: justify;"&gt;&lt;strong&gt;LỢI ÍCH CỦA ĐIỀU TRỊ TĂNG HUYẾT ÁP ĐỐI VỚI NGƯỜI CHÂU Á&lt;/strong&gt;&lt;br /&gt;Đa số các nghiên cứu đánh giá hiệu quả của thuốc điều trị tăng huyết áp được thực hiện tại các nước Âu Mỹ.&lt;br /&gt;Một  trong những nghiên cứu lớn đầu tiên có sự tham gia của đông đảo bệnh  nhân tăng huyết áp ở Châu Á là PROGRESS (Perindopril Protection against  Recurrent Stroke Study) 7. PROGRESS là một thử nghiệm lâm sàng đánh giá  hiệu quả phòng ngừa đột quị tái phát của thuốc ức chế men chuyển  perindopril (có thể kèm lợi tiểu) ở 6.105 người đã từng bị đột quị hoặc  cơn thiếu máu não thoáng qua (gần 50% trong số này có huyết áp tâm thu ³  160 mm Hg hoặc huyết áp tâm thu ³ 90 mm Hg). Kết quả cho thấy phối hợp  ức chế men chuyển – lợi tiểu giảm rất có ý nghĩa nguy cơ đột quị tái  phát (mức giảm 28%, p dưới 0,0001). Trong PROGRESS có sự tham gia của  1.520 bệnh nhân Trung Quốc và 815 bệnh nhân Nhật. Rodgers và cộng sự đã  thực hiện một phân tích đánh giá hiệu quả hạ huyết áp và ngăn ngừa các  biến cố tim mạch của phối hợp ức chế men chuyển – lợi tiểu ở 2 nhóm  chủng tộc (nhóm Châu Á gồm những bệnh nhân Trung Quốc và Nhật và nhóm da  trắng gồm những bệnh nhân Châu Âu, Úc và New Zealand). Theo phân tích  này, phối hợp ức chế men chuyển – lợi tiểu có tác dụng hạ huyết áp ở  người Châu Á mạnh hơn so với ở người da trắng (mức hạ 10,29/4,58 mm Hg  so với 8,12/3,59 mm Hg, p = 0,01). Điểm đáng lưu ý nhất là ở người Châu  Á, phối hợp ức chế men chuyển – lợi tiểu giảm nguy cơ đột quị và biến cố  tim mạch nặng nhiều hơn so với ở người da trắng (nguy cơ đột quị giảm  39% ở người Châu Á và 22% ở người da trắng, nguy cơ biến cố tim mạch  nặng giảm 38% ở người Châu Á và 20% ở người da trắng) 8.&lt;br /&gt;Một thử  nghiệm lâm sàng công bố gần đây cho thấy thuốc chẹn thụ thể angiotensin  có ảnh hưởng thuận lợi đối với bệnh nhân tăng huyết áp người Nhật, giảm  có ý nghĩa nguy cơ đột quị, đau thắt ngực và suy tim 9.&lt;br /&gt;Trong các  nhóm thuốc điều trị tăng huyết áp, nhóm được nghiên cứu nhiều nhất ở  người Châu Á là nhóm thuốc chẹn canxi (bảng 1). Ngay từ năm 1996 đã có  thử nghiệm lâm sàng STONE (Shanghai Trial of Nifedipine in the Elderly)  được công bố cho thấy thuốc chẹn canxi nifedipine giảm có ý nghĩa nguy  cơ đột quị và rối loạn nhịp nặng của bệnh nhân tăng huyết áp lớn tuổi  10. Đến năm 1998 kết quả của nghiên cứu Syst-China (Systolic  Hypertension in China) được công bố. Trong nghiên cứu này, 2.394 bệnh  nhân tăng huyết áp tâm thu đơn độc (tâm thu 160-219 mm Hg và tâm trương dưới 95 mm Hg) tuổi ³ 60 được phân ngẫu nhiên cho dùng nitrendipine  10-40 mg/ngày (có thể phối hợp thêm captopril và lợi tiểu  hydrochlorothiazide) hoặc placebo, thời gian theo dõi trung vị là 3 năm  11. Kết quả Syst-China cho thấy điều trị bằng thuốc hạ huyết áp giảm rất  có ý nghĩa nguy cơ đột quị và tử vong do mọi nguyên nhân lẫn tử vong  tim mạch (bảng 1).&lt;br /&gt;Cả STONE lẫn Syst-China đều cho thấy điều trị  người bệnh tăng huyết áp Châu Á bằng thuốc chẹn canxi rất có lợi. Tuy  nhiên 2 nghiên cứu này có một số nhược điểm liên quan với thiết kế và  đều so sánh một thuốc chẹn canxi với placebo chứ không phải với điều trị  chứng. Mặt khác, mức huyết áp đạt được với thuốc chẹn canxi trong STONE  và Syst-China vẫn còn cao so với các khuyến cáo hiện nay (mức huyết áp  tâm thu trung bình đạt được là khoảng 150 mm Hg). Phải đợi đến khi  nghiên cứu FEVER được công bố y giới mới có bằng chứng thực sự thuyết  phục về lợi ích của thuốc chẹn canxi ở người bệnh tăng huyết áp Châu Á.&lt;br /&gt;&lt;/div&gt; &lt;div style="text-align: justify;"&gt;&lt;br /&gt;&lt;/div&gt; &lt;div style="text-align: center;"&gt;&lt;strong&gt;Bảng 1: Tóm tắt các thử nghiệm lâm sàng lớn đánh giá hiệu quả của thuốc chẹn canxi ở người bệnh tăng huyết áp Châu Á.&lt;/strong&gt;&lt;br /&gt; &lt;table style="border-collapse: collapse; width: 100%;" border="1" cellpadding="3" cellspacing="0"&gt; &lt;tbody style="text-align: left;"&gt; &lt;tr style="text-align: left;"&gt; &lt;td style="text-align: left;" valign="top" width="95"&gt;  &lt;p style="text-align: justify;"&gt;Thử nghiệm   (năm)&lt;/p&gt; &lt;/td&gt; &lt;td style="text-align: left;" valign="top" width="104"&gt; &lt;p&gt;Số bệnh   nhân, nơi thực hiện&lt;/p&gt; &lt;/td&gt; &lt;td style="text-align: left;" valign="top" width="128"&gt; &lt;p&gt;Đặc điểm   bệnh nhân&lt;/p&gt; &lt;/td&gt; &lt;td style="text-align: left;" valign="top" width="96"&gt; &lt;p&gt;So sánh&lt;/p&gt; &lt;/td&gt; &lt;td style="text-align: left;" valign="top" width="145"&gt; &lt;p&gt;Kết quả&lt;/p&gt; &lt;/td&gt; &lt;/tr&gt; &lt;tr style="text-align: left;"&gt; &lt;td style="text-align: left;" valign="top" width="95"&gt; &lt;p&gt;STONE   (1996)&lt;/p&gt; &lt;/td&gt; &lt;td style="text-align: left;" valign="top" width="104"&gt; &lt;p&gt;1632 người,   thành phố Thượng Hải&lt;/p&gt; &lt;/td&gt; &lt;td style="text-align: left;" valign="top" width="128"&gt; &lt;p&gt;Tuổi   60-79, HA tâm thu trên 160 mm Hg hoặc HA tâm trương trên 90 mm Hg&lt;/p&gt; &lt;/td&gt; &lt;td style="text-align: left;" valign="top" width="96"&gt; &lt;p&gt;Nifedipine   20-60 mg/ngày so với placebo&lt;/p&gt; &lt;/td&gt; &lt;td style="text-align: left;" valign="top" width="145"&gt; &lt;p&gt;Nifedipine   giảm 66% nguy cơ đột quị và rối loạn nhịp nặng&lt;/p&gt; &lt;/td&gt; &lt;/tr&gt; &lt;tr style="text-align: left;"&gt; &lt;td style="text-align: left;" valign="top" width="95"&gt; &lt;p&gt;Syst-China   (1998)&lt;/p&gt; &lt;/td&gt; &lt;td style="text-align: left;" valign="top" width="104"&gt; &lt;p&gt;2394 người,   31 trung tâm toàn Trung Quốc&lt;/p&gt; &lt;/td&gt; &lt;td style="text-align: left;" valign="top" width="128"&gt; &lt;p&gt;Tuổi ≥   60, HA tâm thu 160-219 mm Hg và HA tâm trương dưới 95 mm Hg&lt;/p&gt; &lt;/td&gt; &lt;td style="text-align: left;" valign="top" width="96"&gt; &lt;p&gt;Nitrendipine   10-40 mg/ngày so với placebo&lt;/p&gt; &lt;/td&gt; &lt;td style="text-align: left;" valign="top" width="145"&gt; &lt;p&gt;Nitrendipine   giảm 38% đột quị, 39% tử vong do mọi nguyên nhân, 39% tử vong tim mạch&lt;/p&gt; &lt;/td&gt; &lt;/tr&gt; &lt;tr style="text-align: left;"&gt; &lt;td style="text-align: left;" valign="top" width="95"&gt; &lt;p&gt;FEVER   (2005)&lt;/p&gt; &lt;/td&gt; &lt;td style="text-align: left;" valign="top" width="104"&gt; &lt;p&gt;9711 người,   109 trung tâm toàn Trung Quốc&lt;/p&gt; &lt;/td&gt; &lt;td style="text-align: left;" valign="top" width="128"&gt; &lt;p&gt;Tuổi   50-79, có yếu tố nguy cơ hoặc bệnh tim mạch, HA tâm thu  140-180 mm Hg hoặc HA   tâm trương 90-100 mm Hg (với HCTZ 12,5 mg/ngày)&lt;/p&gt; &lt;/td&gt; &lt;td style="text-align: left;" valign="top" width="96"&gt; &lt;p&gt;Felodipine   5 mg/ngày so với điều trị chứng (HA mục tiêu dưới 160/95 mm Hg)&lt;/p&gt; &lt;/td&gt; &lt;td style="text-align: left;" valign="top" width="145"&gt; &lt;p&gt;Felodipine   giảm 27% đột quị, 31% tử vong do mọi nguyên nhân, 33% tử vong tim mạch, 27%   toàn bộ các biến cố tim mạch&lt;/p&gt; &lt;/td&gt; &lt;/tr&gt; &lt;/tbody&gt; &lt;/table&gt;&lt;br /&gt;&lt;/div&gt; &lt;div style="text-align: justify;"&gt;&lt;strong&gt;NGHIÊN CỨU FEVER&lt;/strong&gt;&lt;br /&gt;Thử  nghiệm lâm sàng lớn nhất từ trước đến nay trên bệnh nhân tăng huyết áp  Châu Á là FEVER (Felodipine Event Reduction) 13. Khác với STONE và  Syst-China chỉ tuyển bệnh nhân ³ 60 tuổi, FEVER  tuyển những bệnh nhân  tăng huyết áp tuổi 50-79. Tiêu chuẩn chọn bệnh đối với những người tuổi  50-60 là có tiền sử biến cố tim mạch (nhồi máu cơ tim hoặc đột quị trên 6  tháng, đau thắt ngực ổn định hoặc bằng chứng lâm sàng bệnh mạch vành,  suy tim NYHA II, bệnh động mạch ngoại vi, cơn thiếu máu não thoáng qua)  hoặc có ít nhất 2 yếu tố nguy cơ tim mạch (nam giới, hút thuốc,  cholesterol toàn phần ³ 220 mg/dl hoặc đang dùng thuốc hạ lipid máu, phì  đại thất trái theo tiêu chuẩn Sokolow-Lyon trên điện tim, đạm niệu, chỉ  số khối cơ thể trên 27 kg/m2). Tiêu chuẩn chọn bệnh đối với những người  trên 60 tuổi là có ít nhất một biến cố hoặc một yếu tố nguy cơ. Tiêu  chuẩn loại trừ là đột quị hoặc nhồi máu cơ tim trong vòng 6 tháng, tăng  huyết áp thứ phát, đau thắt ngực không ổn định, bệnh cơ tim hoặc bệnh  van tim nặng, creatinin huyết thanh trên 2,0 mg/dl, bệnh thống phong,  đái tháo đường không được kiểm soát (đường huyết đói trên 180 mg/dl),  bệnh phổi hoặc gan nặng, chống chỉ định với các thuốc nghiên cứu và  không muốn hợp tác với nhân viên y tế.&lt;br /&gt;Bệnh nhân được đưa vào giai  đoạn tầm soát nếu có huyết áp tâm thu £ 210 mm Hg và huyết áp tâm trương  £ 115 mm Hg (nếu đang được điều trị) hoặc có huyết áp tâm thu 160-210  mm Hg hoặc huyết áp tâm trương 95-115 mm Hg (nếu chưa được điều trị).  Bệnh nhân được cho dùng hydrochlorothiazide 12,5 mg/ngày trong 6 tuần.  Sau 6 tuần, những người có huyết áp tâm thu 140-180 mm Hg hoặc huyết áp  tâm trương 90-100 mm Hg được phân ngẫu nhiên cho dùng felodipine 5  mg/ngày hoặc placebo. Nếu trong 2 lần tái khám liên tiếp huyết áp của  bệnh nhân không dưới 160/95 mm Hg, bác sĩ điều trị có thể dùng thêm 12,5  mg hydrochlorothiazide nữa và những thuốc hạ huyết áp khác ngoài chẹn  canxi.&lt;br /&gt;Tổng cộng có 9.711 bệnh nhân được phân ngẫu nhiên cho dùng  felodipine (n = 4.841) hoặc placebo (n = 4.870). Đặc điểm ban đầu của  bệnh nhân được nêu trên bảng 2. Tiêu chí đánh giá chính của FEVER là đột  quị gây chết hoặc không. Các tiêu chí đánh giá phụ gồm: (1) toàn bộ các  biến cố tim mạch (chết do bệnh tim mạch, đột quị không chết, nhồi máu  cơ tim không chết, phình bóc tách động mạch chủ, suy tim tăng nặng, can  thiệp mạch vành qua da hoặc mổ bắc cầu mạch vành, can thiệp qua da hoặc  mổ bắc cầu động mạch ngoại vi, creatinin huyết thanh = 4,0 mg/dl); (2)  toàn bộ các biến cố tim (chết do bệnh tim mạch, đột quị không chết, nhồi  máu cơ tim không chết, suy tim tăng nặng, can thiệp mạch vành qua da  hoặc mổ bắc cầu mạch vành); (3) chết do mọi nguyên nhân.&lt;/div&gt; &lt;div style="text-align: justify;"&gt;&lt;br /&gt;&lt;/div&gt; &lt;div style="text-align: center;"&gt;&lt;strong&gt;Bảng 2: Đặc điểm ban đầu của bệnh nhân tham gia FEVER.&lt;br /&gt;&lt;/strong&gt;  &lt;table style="border-collapse: collapse; width: 100%;" border="1" cellpadding="3" cellspacing="0"&gt; &lt;tbody style="text-align: left;"&gt; &lt;tr style="text-align: left;"&gt; &lt;td style="text-align: left;" valign="top" width="271"&gt; &lt;p&gt; &lt;/p&gt; &lt;/td&gt; &lt;td style="text-align: left;" valign="top" width="152"&gt; &lt;p&gt;Felodipine   (n = 4841)&lt;/p&gt; &lt;/td&gt; &lt;td style="text-align: left;" valign="top" width="145"&gt; &lt;p&gt;Placebo   (n = 4870)&lt;/p&gt; &lt;/td&gt; &lt;/tr&gt; &lt;tr style="text-align: left;"&gt; &lt;td style="text-align: left;" valign="top" width="271"&gt; &lt;p&gt;Giới nam   (%)&lt;/p&gt; &lt;/td&gt; &lt;td style="text-align: left;" valign="top" width="152"&gt; &lt;p&gt;2983   (61,8)&lt;/p&gt; &lt;/td&gt; &lt;td style="text-align: left;" valign="top" width="145"&gt; &lt;p&gt;2937   (60,5)&lt;/p&gt; &lt;/td&gt; &lt;/tr&gt; &lt;tr style="text-align: left;"&gt; &lt;td style="text-align: left;" valign="top" width="271"&gt; &lt;p&gt;Tuổi (năm)&lt;/p&gt; &lt;/td&gt; &lt;td style="text-align: left;" valign="top" width="152"&gt; &lt;p&gt;61,5 ± 7,1&lt;/p&gt; &lt;/td&gt; &lt;td style="text-align: left;" valign="top" width="145"&gt; &lt;p&gt;61,5 ± 7,2&lt;/p&gt; &lt;/td&gt; &lt;/tr&gt; &lt;tr style="text-align: left;"&gt; &lt;td style="text-align: left;" valign="top" width="271"&gt; &lt;p&gt;Chỉ số khối   cơ thể (kg/m&lt;sup&gt;2&lt;/sup&gt;)&lt;/p&gt; &lt;/td&gt; &lt;td style="text-align: left;" valign="top" width="152"&gt; &lt;p&gt;26,2 ± 3,4&lt;/p&gt; &lt;/td&gt; &lt;td style="text-align: left;" valign="top" width="145"&gt; &lt;p&gt;26,3 ± 3,3&lt;/p&gt; &lt;/td&gt; &lt;/tr&gt; &lt;tr style="text-align: left;"&gt; &lt;td style="text-align: left;" valign="top" width="271"&gt; &lt;p&gt;HA tâm   thu (mm Hg)&lt;/p&gt; &lt;/td&gt; &lt;td style="text-align: left;" valign="top" width="152"&gt; &lt;p&gt;154,2 ± 12,2&lt;/p&gt; &lt;/td&gt; &lt;td style="text-align: left;" valign="top" width="145"&gt; &lt;p&gt;154,4 ± 12,0&lt;/p&gt; &lt;/td&gt; &lt;/tr&gt; &lt;tr style="text-align: left;"&gt; &lt;td style="text-align: left;" valign="top" width="271"&gt; &lt;p&gt;HA tâm trương   (mm Hg)&lt;/p&gt; &lt;/td&gt; &lt;td style="text-align: left;" valign="top" width="152"&gt; &lt;p&gt;91,0 ± 7,2&lt;/p&gt; &lt;/td&gt; &lt;td style="text-align: left;" valign="top" width="145"&gt; &lt;p&gt;91,3 ± 7,1&lt;/p&gt; &lt;/td&gt; &lt;/tr&gt; &lt;tr style="text-align: left;"&gt; &lt;td style="text-align: left;" valign="top" width="271"&gt; &lt;p&gt;Tần số   tim (nhát/phút)&lt;/p&gt; &lt;/td&gt; &lt;td style="text-align: left;" valign="top" width="152"&gt; &lt;p&gt;76,4 ± 8,2&lt;/p&gt; &lt;/td&gt; &lt;td style="text-align: left;" valign="top" width="145"&gt; &lt;p&gt;76,3 ± 8,3&lt;/p&gt; &lt;/td&gt; &lt;/tr&gt; &lt;tr style="text-align: left;"&gt; &lt;td style="text-align: left;" valign="top" width="271"&gt; &lt;p&gt;Hút thuốc   (%)&lt;/p&gt; &lt;/td&gt; &lt;td style="text-align: left;" valign="top" width="152"&gt; &lt;p&gt;1442   (29,8)&lt;/p&gt; &lt;/td&gt; &lt;td style="text-align: left;" valign="top" width="145"&gt; &lt;p&gt;1384   (28,5)&lt;/p&gt; &lt;/td&gt; &lt;/tr&gt; &lt;tr style="text-align: left;"&gt; &lt;td style="text-align: left;" valign="top" width="271"&gt; &lt;p&gt;Tăng   cholesterol (%)&lt;/p&gt; &lt;/td&gt; &lt;td style="text-align: left;" valign="top" width="152"&gt; &lt;p&gt;1187   (24,5)&lt;/p&gt; &lt;/td&gt; &lt;td style="text-align: left;" valign="top" width="145"&gt; &lt;p&gt;1181   (24,3)&lt;/p&gt; &lt;/td&gt; &lt;/tr&gt; &lt;tr style="text-align: left;"&gt; &lt;td style="text-align: left;" valign="top" width="271"&gt; &lt;p&gt;Đái tháo đường   (%)&lt;/p&gt; &lt;/td&gt; &lt;td style="text-align: left;" valign="top" width="152"&gt; &lt;p&gt;546 (11,3)&lt;/p&gt; &lt;/td&gt; &lt;td style="text-align: left;" valign="top" width="145"&gt; &lt;p&gt;695 (14,3)&lt;/p&gt; &lt;/td&gt; &lt;/tr&gt; &lt;tr style="text-align: left;"&gt; &lt;td style="text-align: left;" valign="top" width="271"&gt; &lt;p&gt;Phì đại   thất trái (%)&lt;/p&gt; &lt;/td&gt; &lt;td style="text-align: left;" valign="top" width="152"&gt; &lt;p&gt;521 (10,8)&lt;/p&gt; &lt;/td&gt; &lt;td style="text-align: left;" valign="top" width="145"&gt; &lt;p&gt;548 (11,3)&lt;/p&gt; &lt;/td&gt; &lt;/tr&gt; &lt;tr style="text-align: left;"&gt; &lt;td style="text-align: left;" valign="top" width="271"&gt; &lt;p&gt;Đạm niệu   (%)&lt;/p&gt; &lt;/td&gt; &lt;td style="text-align: left;" valign="top" width="152"&gt; &lt;p&gt;95 (2,0)&lt;/p&gt; &lt;/td&gt; &lt;td style="text-align: left;" valign="top" width="145"&gt; &lt;p&gt;100 (2,1)&lt;/p&gt; &lt;/td&gt; &lt;/tr&gt; &lt;tr style="text-align: left;"&gt; &lt;td style="text-align: left;" valign="top" width="271"&gt; &lt;p&gt;Chỉ số khối   cơ thể trên 27 kg/m&lt;sup&gt;2&lt;/sup&gt;&lt;/p&gt; &lt;/td&gt; &lt;td style="text-align: left;" valign="top" width="152"&gt; &lt;p&gt;1997   (41,3)&lt;/p&gt; &lt;/td&gt; &lt;td style="text-align: left;" valign="top" width="145"&gt; &lt;p&gt;1948   (40,3)&lt;/p&gt; &lt;/td&gt; &lt;/tr&gt; &lt;tr style="text-align: left;"&gt; &lt;td style="text-align: left;" valign="top" width="271"&gt; &lt;p&gt;Tiền sử đột   quị (%)&lt;/p&gt; &lt;/td&gt; &lt;td style="text-align: left;" valign="top" width="152"&gt; &lt;p&gt;685 (14,2)&lt;/p&gt; &lt;/td&gt; &lt;td style="text-align: left;" valign="top" width="145"&gt; &lt;p&gt;753 (15,5)&lt;/p&gt; &lt;/td&gt; &lt;/tr&gt; &lt;tr style="text-align: left;"&gt; &lt;td style="text-align: left;" valign="top" width="271"&gt; &lt;p&gt;Tiền sử   nhồi máu cơ tim (%)&lt;/p&gt; &lt;/td&gt; &lt;td style="text-align: left;" valign="top" width="152"&gt; &lt;p&gt;102 (2,1)&lt;/p&gt; &lt;/td&gt; &lt;td style="text-align: left;" valign="top" width="145"&gt; &lt;p&gt;81 (1,7)&lt;/p&gt; &lt;/td&gt; &lt;/tr&gt; &lt;tr style="text-align: left;"&gt; &lt;td style="text-align: left;" valign="top" width="271"&gt; &lt;p&gt;Đau thắt   ngực hoặc bệnh mạch vành (%)&lt;/p&gt; &lt;/td&gt; &lt;td style="text-align: left;" valign="top" width="152"&gt; &lt;p&gt;646 (13,3)&lt;/p&gt; &lt;/td&gt; &lt;td style="text-align: left;" valign="top" width="145"&gt; &lt;p&gt;672 (13,8)&lt;/p&gt; &lt;/td&gt; &lt;/tr&gt; &lt;tr style="text-align: left;"&gt; &lt;td style="text-align: left;" valign="top" width="271"&gt; &lt;p&gt;Tiền sử   suy tim (%)&lt;/p&gt; &lt;/td&gt; &lt;td style="text-align: left;" valign="top" width="152"&gt; &lt;p&gt;298 (6,2)&lt;/p&gt; &lt;/td&gt; &lt;td style="text-align: left;" valign="top" width="145"&gt; &lt;p&gt;316 (6,5)&lt;/p&gt; &lt;/td&gt; &lt;/tr&gt; &lt;tr style="text-align: left;"&gt; &lt;td style="text-align: left;" valign="top" width="271"&gt; &lt;p&gt;Tiền sử bệnh   động mạch ngoại vi (%)&lt;/p&gt; &lt;/td&gt; &lt;td style="text-align: left;" valign="top" width="152"&gt; &lt;p&gt;21 (0,4)&lt;/p&gt; &lt;/td&gt; &lt;td style="text-align: left;" valign="top" width="145"&gt; &lt;p&gt;27 (0,6)&lt;/p&gt; &lt;/td&gt; &lt;/tr&gt; &lt;tr style="text-align: left;"&gt; &lt;td style="text-align: left;" valign="top" width="271"&gt; &lt;p&gt;Tiền sử   thiếu máu não thoáng qua (%)&lt;/p&gt; &lt;/td&gt; &lt;td style="text-align: left;" valign="top" width="152"&gt; &lt;p&gt;487 (10,1)&lt;/p&gt; &lt;/td&gt; &lt;td style="text-align: left;" valign="top" width="145"&gt; &lt;p&gt;517 (10,7)&lt;/p&gt; &lt;/td&gt; &lt;/tr&gt; &lt;/tbody&gt; &lt;/table&gt;&lt;br /&gt;&lt;/div&gt; &lt;div style="text-align: justify;"&gt;Thời gian theo dõi trung bình là 40  tháng. Tỉ lệ không phải dùng thêm thuốc hạ huyết áp (để kiểm soát huyết  áp dưới 160/95 mm Hg) của nhóm felodipine cao hơn so với nhóm placebo  (66,1% so với 57,7%, p dưới 0,001). Tỉ lệ dùng thêm các thuốc lợi tiểu,  chẹn bêta, chẹn alpha và ức chế men chuyển ở nhóm placebo đều cao hơn có  ý nghĩa so với ở nhóm felodipine. Mặc dù vậy, huyết áp của nhóm  felodipine được kiểm soát tốt hơn so với nhóm placebo: Vào lúc chấm dứt  nghiên cứu huyết áp tâm thu và tâm trương trung bình của nhóm felodipine  là 138,1/82,3 mm Hg (độ lệch chuẩn 11,6/7,3) và của nhóm placebo là  141,6/83,9 mm Hg (độ lệch chuẩn 12,2/7,7). Trong suốt thời gian nghiên  cứu, huyết áp của nhóm felodipine thấp hơn trung bình 4,2/2,1 mm Hg so  với nhóm placebo.&lt;br /&gt;Kết quả FEVER cho thấy điều trị bằng felodipine  giảm 27% (p = 0,001) đột quị gây chết hoặc không (hình 2). Cả 3 tiêu chí  đánh giá phụ đều giảm có ý nghĩa ở nhóm felodipine: Toàn bộ các biến cố  tim mạch giảm 27% (p dưới 0,001), toàn bộ các biến cố tim giảm 35% (p =  0,012) và tử vong do mọi nguyên nhân giảm 31% (p = 0,006) .&lt;/div&gt; &lt;div style="text-align: center;"&gt;&lt;img alt="THACA-h2" src="http://timmachhoc.vn/images/stories/tongquantimmach/THACA-h2.jpg" width="500" height="271" /&gt;&lt;/div&gt; &lt;div style="text-align: center;"&gt;&lt;strong&gt;Hình 2: Tần suất dồn đột quị của nhóm felodipine (đường dưới) và nhóm felodipine (đường trên).&lt;br /&gt;&lt;/strong&gt;&lt;/div&gt; &lt;div style="text-align: center;"&gt;&lt;br /&gt;&lt;/div&gt; &lt;div style="text-align: center;"&gt;&lt;img alt="THACA-h3" src="http://timmachhoc.vn/images/stories/tongquantimmach/THACA-h3.jpg" width="500" height="268" /&gt;&lt;/div&gt; &lt;div style="text-align: center;"&gt;&lt;strong&gt;Hình 3: Ảnh hưởng của felodipine trên các biến cố lâm sàng quan trọng trong nghiên cứu FEVER.&lt;br /&gt;&lt;/strong&gt;&lt;br /&gt;&lt;/div&gt; &lt;div style="text-align: justify;"&gt;Tần suất đái tháo đường mới mắc của 2  nhóm tương tự nhau. Có một điều rất đáng chú ý là tần suất ung thư mới  mắc của bệnh nhân dùng felodipine thấp hơn có ý nghĩa so với bệnh nhân  dùng placebo (hình 3). Điều này cho phép xua tan mối lo ngại về khả năng  gây ung thư của thuốc chẹn canxi đã được đề cập trong y văn trước khi  kết quả FEVER được công bố.&lt;br /&gt;Đa số các phản ứng ngoại ý có tần suất  tương đương ở 2 nhóm, trừ 2 phản ứng bừng mặt và phù mắt cá có tần suất  cao hơn ở nhóm felodipine.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;strong&gt;NGHIÊN CỨU HOT-CHINA &lt;/strong&gt;&lt;br /&gt;FEVER  đã chứng minh một cách hết sức thuyết phục là phối hợp felodipine liều  thấp với lợi tiểu thiazide liều thấp giúp kiểm soát hữu hiệu huyết áp và  ngăn ngừa các biến cố tim mạch nặng ở bệnh nhân tăng huyết áp Châu Á.  Tuy nhiên có một câu hỏi được đặt ra là có cần thiết phải khởi trị bằng  lợi tiểu thiazide liều thấp trước khi bắt đầu dùng thuốc chẹn canxi  (giống như trong FEVER) hay không. Nghiên cứu HOT-CHINA đã được thiết kế  nhằm làm rõ vấn đề này. Tham gia HOT-CHINA có 53.040 bệnh nhân tăng  huyết áp từ 148 thành phố của Trung Quốc. Bệnh nhân được điều trị theo  một qui trình gồm 5 bước như trong nghiên cứu HOT (Hypertension Optimal  Treatment) (bảng 3). Mỗi bước kéo dài 2 tuần, nếu sau 2 tuần huyết áp  của bệnh nhân vẫn chưa đạt được mức dưới 140/90 mm Hg thì bệnh nhân được  chuyển sang bước kế tiếp. Tổng thời gian nghiên cứu là 10 tuần.&lt;/div&gt; &lt;div style="text-align: justify;"&gt;&lt;br /&gt;&lt;/div&gt; &lt;div style="text-align: center;"&gt;&lt;strong&gt;Bảng 3: Các bước để kiểm soát huyết áp trong nghiên cứu HOT-CHINA.&lt;br /&gt;&lt;/strong&gt;  &lt;table style="border-collapse: collapse; width: 100%;" border="1" cellpadding="3" cellspacing="0"&gt; &lt;tbody style="text-align: left;"&gt; &lt;tr style="text-align: left;"&gt; &lt;td style="text-align: left;" valign="top" width="79"&gt; &lt;p&gt;Bước 1&lt;/p&gt; &lt;/td&gt; &lt;td style="text-align: left;" valign="top" width="489"&gt; &lt;p&gt;Felodipine   5 mg/ngày&lt;/p&gt; &lt;/td&gt; &lt;/tr&gt; &lt;tr style="text-align: left;"&gt; &lt;td style="text-align: left;" valign="top" width="79"&gt; &lt;p&gt;Bước 2&lt;/p&gt; &lt;/td&gt; &lt;td style="text-align: left;" valign="top" width="489"&gt; &lt;p&gt;Felodipine   5 mg/ngày + metoprolol 25 mg x 2/ngày hoặc ức chế men chuyển liều thấp&lt;/p&gt; &lt;/td&gt; &lt;/tr&gt; &lt;tr style="text-align: left;"&gt; &lt;td style="text-align: left;" valign="top" width="79"&gt; &lt;p&gt;Bước 3&lt;/p&gt; &lt;/td&gt; &lt;td style="text-align: left;" valign="top" width="489"&gt; &lt;p&gt;Felodipine   10 mg/ngày + metoprolol 25 mg x 2/ngày hoặc ức chế men chuyển liều thấp&lt;/p&gt; &lt;/td&gt; &lt;/tr&gt; &lt;tr style="text-align: left;"&gt; &lt;td style="text-align: left;" valign="top" width="79"&gt; &lt;p&gt;Bước 4&lt;/p&gt; &lt;/td&gt; &lt;td style="text-align: left;" valign="top" width="489"&gt; &lt;p&gt;Felodipine   10 mg/ngày + metoprolol 50 mg x 2/ngày hoặc ức chế men chuyển liều gấp đôi&lt;/p&gt; &lt;/td&gt; &lt;/tr&gt; &lt;tr style="text-align: left;"&gt; &lt;td style="text-align: left;" valign="top" width="79"&gt; &lt;p&gt;Bước 5&lt;/p&gt; &lt;/td&gt; &lt;td style="text-align: left;" valign="top" width="489"&gt; &lt;p&gt;Bước 4 +   metoprolol hoặc ức chế men chuyển liều thấp (thuốc chưa được dùng trong bước   4) hoặc lợi tiểu&lt;/p&gt; &lt;/td&gt; &lt;/tr&gt; &lt;/tbody&gt; &lt;/table&gt;&lt;br /&gt;&lt;/div&gt; &lt;div style="text-align: center;"&gt;&lt;img alt="THACA-h4" src="http://timmachhoc.vn/images/stories/tongquantimmach/THACA-h4.jpg" width="496" height="313" /&gt;&lt;/div&gt; &lt;div style="text-align: center;"&gt;&lt;strong&gt;Hình 4: Thay đổi của huyết áp  tâm thu (đường trên cùng, đơn vị mm Hg), huyết áp tâm trương (đường  giữa, đơn vị mm Hg) và tần số tim (đường dưới cùng, đơn vị nhát/phút)  trong nghiên cứu HOT-CHINA.&lt;br /&gt;&lt;/strong&gt;&lt;br /&gt;&lt;/div&gt; Kết quả HOT-CHINA cho thấy huyết áp  của bệnh nhân tham gia giảm rõ rệt trong quá trình theo dõi : Từ mức ban  đầu 164,8/98,3 mm Hg (độ lệch chuẩn 15,8/10,1 mm Hg) huyết áp giảm  xuống 133,6/80,9 mm Hg (độ lệch chuẩn 9,6/6,6 mm Hg) sau 10 tuần điều  trị (hình 4). Tỉ lệ bệnh nhân có huyết áp được kiểm soát dưới 140/90 mm  Hg sau 10 tuần là 87%. Tần suất tác dụng phụ rất thấp (1,2%) và không có  tác dụng phụ nghiêm trọng nào được ghi nhận. Điểm đáng lưu ý là có hơn  51% bệnh nhân được kiểm soát huyết áp dưới 140/90 mm Hg ở bước 2, tức là  chỉ với felodipine 5 mg/ngày ± metoprolol hoặc ức chế men chuyển liều  thấp.&lt;br /&gt;Như vậy, HOT-CHINA chứng tỏ hoàn toàn có thể khởi trị bằng  thuốc chẹn canxi liều thấp để kiểm soát huyết áp cho bệnh nhân tăng  huyết áp Châu Á.&lt;br /&gt;Các nghiên cứu nêu trên, dù còn chưa nhiều, đã góp  phần quan trọng vào việc tìm hiểu hiệu quả của các nhóm thuốc và phối  hợp thuốc khác nhau trong điều trị tăng huyết áp ở người Châu Á. Chúng  ta hy vọng trong thời gian sắp tới sẽ có thêm những nghiên cứu về điều  trị tăng huyết áp được thực hiện ở Châu Á, đặc biệt là ở các nước Đông Á  khác ngoài Trung Quốc, để có thông tin đầy đủ hơn về vấn đề hết sức  quan trọng, có liên quan trực tiếp với thực hành hàng ngày này.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;strong&gt;TÀI LIỆU THAM KHẢO&lt;/strong&gt;&lt;br /&gt;1)     Chobanian AV, Bakris GL, Black HR, et al, and the National High Blood  Pressure Education Program Coordinating Committee. Seventh Report of the  Joint National Committee on prevention, detection, evaluation, and  treatment of high blood pressure. Hypertension 2003;42:1206-1252.&lt;br /&gt;2)     Mancia G, De Backer G, Dominizak A, et al. 2007 guidelines for the  management of arterial hypertension. The Task Force for the management  of arterial hypertension of the European Society of Hypertension (ESH)  and the European Society of Cardiology (ESC). Eur Heart J  doi:10.1093/eurheartj/ehm236.&lt;br /&gt;3)    MacMahon S, Peto R, Cutler J, et  al. Blood pressure, stroke, and coronary heart disease. Part I,  prolonged differences in blood pressure: prospective observational  studies corrected for the regression dilution bias. Lancet  1990;335:765-774.&lt;br /&gt;4)    Prospective Studies Collaboration.  Cholesterol, diastolic blood pressure, and stroke: 13.000 strokes in  45.000 people in 45 prospective cohorts. Lancet 1995;346:1647-1653.&lt;br /&gt;5)     Prospective Studies Collaboration. Age-specific relevance of usual  blood pressure to vascular mortality: a meta-analysis of individual data  for one million adults in 61 prospective studies. Lancet  2002;360:1903-1913.&lt;br /&gt;6)    Asia Pacific Cohort Studies Collaboration.  Blood pressure and cardiovascular disease in the Asia Pacific region. J  Hypertens 2003;21:707-716.&lt;br /&gt;7)    PROGRESS Collaborative Group.  Randomised trial of a perindopril-based blood-pressure-lowering regimen  among 6105 individuals with previous stroke or transient ischaemic  attack. Lancet 2001;358:1033-1041.&lt;br /&gt;8)    Rodgers A, Chapman N,  Woodward M, et al, on behalf of the PROGRESS Collaborative Group.  Perindopril-based blood pressure lowering in individuals with  cerebrovascular disease: consistency of benefits by age, sex and region.  J Hypertens 2004;22:653-659.&lt;br /&gt;9)    Mochizuki S, Dahlof B, Shimizu M,  et al, for the Jikei Heart Study group. Valsartan in a japanese  population with hypertension and other cardiovascular disease (Jikei  Heart Study): a randomised, open-label, blinded endpoint  morbidity-mortality study. Lancet 2007;369:1431-1439.&lt;br /&gt;10)    Gong L, Zhang W, Zhu Y, et al. Shanghai trial of nifedipine in the elderly (STONE). J Hypertens 1996;14:1237-1245.&lt;br /&gt;11)     Liu L, Wang JG, Gong L, et al, for the Systolic Hypertension in China  (Syst-China) Collaborative Group. Comparison of active treatment and  placebo in older Chinese patients with isolated systolic hypertension. J  Hypertens 1998;16:1823-1829.&lt;br /&gt;12)    Liu L, Zhang Y, Liu G, et al,  for the FEVER study group. The Felodipine Event Reduction (FEVER) study:  a randomized long-term placebo-controlled trial in Chinese hypertensive  patients. J Hypertens 2005;23:2157-2172.&lt;br /&gt;Liu L, Zhang W, Hao J, et  al, on behalf of HOT-CHINA Working Group. The efficacy and safety study  on sustained release felodipine in blood pressure lowering treatment.  Chin J Cardiol 2004;32:1-5.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;theo timmachhoc.vn&lt;br /&gt;&lt;p&gt;-----------------------------------&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Giảng Đường Y Khoa&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;a href="http://giangduongykhoa.blogspot.com/"&gt;http://giangduongykhoa.blogspot.com&lt;/a&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;a href="http://giangduongykhoa.net/"&gt;http://giangduongykhoa.net&lt;/a&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;-----------------------------------&lt;/p&gt;&lt;div class="blogger-post-footer"&gt;Giảng Đường Y Khoa - Nơi Hội Tụ Kiến Thức Y Khoa&lt;img width='1' height='1' src='https://blogger.googleusercontent.com/tracker/8347068896071358659-1614255026200105280?l=giangduongykhoa.blogspot.com' alt='' /&gt;&lt;/div&gt;</content><link rel='replies' type='application/atom+xml' href='http://giangduongykhoa.blogspot.com/feeds/1614255026200105280/comments/default' title='Đăng Nhận xét'/><link rel='replies' type='text/html' href='http://giangduongykhoa.blogspot.com/2010/12/tang-huyet-ap-o-nguoi-chau.html#comment-form' title='0 Nhận xét'/><link rel='edit' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/8347068896071358659/posts/default/1614255026200105280'/><link rel='self' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/8347068896071358659/posts/default/1614255026200105280'/><link rel='alternate' type='text/html' href='http://giangduongykhoa.blogspot.com/2010/12/tang-huyet-ap-o-nguoi-chau.html' title='Tăng huyết áp ở người Châu Á'/><author><name>Giảng Đường Y Khoa</name><uri>http://www.blogger.com/profile/01045762399869292181</uri><email>noreply@blogger.com</email><gd:image rel='http://schemas.google.com/g/2005#thumbnail' width='32' height='32' src='http://1.bp.blogspot.com/_iO0u_-8tJ8E/S95LXKfU_tI/AAAAAAAAAcY/p80KgeQ8pf0/S220/logo-1.png'/></author><thr:total>0</thr:total></entry><entry><id>tag:blogger.com,1999:blog-8347068896071358659.post-7264573046962159582</id><published>2010-12-17T05:24:00.000-08:00</published><updated>2010-12-17T05:24:00.578-08:00</updated><category scheme='http://www.blogger.com/atom/ns#' term='Nội Khoa - tim mạch'/><title type='text'>Điều trị chống huyết khối trong bệnh thuyên tắc huyết khối tĩnh mạch</title><content type='html'>&lt;p&gt;&lt;/p&gt;&lt;br /&gt;&lt;div style="text-align: right;"&gt;&lt;strong&gt; ThS. Hồ Huỳnh Quang Trí&lt;br /&gt;&lt;em&gt;Viện Tim TP.HCM&lt;/em&gt;&lt;/strong&gt;&lt;/div&gt; &lt;div style="text-align: justify;"&gt;&lt;br /&gt;&lt;/div&gt; &lt;div style="text-align: justify;"&gt;Bệnh thuyên tắc huyết khối tĩnh mạch  (venous thromboembolic disease) có 2 biểu hiện lâm sàng là huyết khối  tĩnh mạch sâu (deep venous thrombosis) và thuyên tắc động mạch phổi  (pulmonary embolism). Gọi huyết khối tĩnh mạch sâu và thuyên tắc động  mạch phổi là 2 biểu hiện của cùng một bệnh là vì chúng có chung một cơ  chế bệnh sinh &lt;sup&gt;1,2&lt;/sup&gt;. Hơn nữa, gần 80% bệnh nhân thuyên tắc động  mạch phổi có bằng chứng huyết khối tĩnh mạch sâu và ngược lại có gần  50% bệnh nhân huyết khối tĩnh mạch sâu đoạn gần bị thuyên tắc động mạch  phổi sau đó &lt;sup&gt;1&lt;/sup&gt;. Liệu pháp chống huyết khối, bao gồm liệu pháp  chống đông và liệu pháp tiêu sợi huyết, đóng vai trò chủ lực trong điều  trị bệnh thuyên tắc huyết khối tĩnh mạch.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;strong&gt;ĐIỀU TRỊ CHỐNG HUYẾT KHỐI TRONG HUYẾT KHỐI TĨNH MẠCH SÂU&lt;/strong&gt;&lt;br /&gt;Hiện  nay có 3 loại thuốc chống đông được dùng trong giai đoạn cấp của huyết  khối tĩnh mạch sâu là heparin không phân đoạn (KPĐ), heparin trọng lượng  phân tử thấp (TLPTT) và fondaparinux.&lt;br /&gt;Heparin KPĐ là thuốc đầu tiên  được dùng trong chỉ định này. Liều heparin KPĐ được khuyến cáo là 80  đơn vị/kg tiêm bolus tĩnh mạch rồi truyền tĩnh mạch 18 đơn vị/kg/giờ,  sau đó vận tốc truyền được điều chỉnh để đạt một mức aPTT (activated  partial thromboplastin time) tương đương với hoạt tính heparin trong  huyết tương 0,3-0,7 IU/ml anti-Xa (thường là khoảng 2-2,5 lần aPTT  chứng) 3. Dùng heparin KPĐ có bất lợi là phải theo dõi aPTT thường xuyên  trong suốt quá trình điều trị và có thể gây giảm tiểu cầu nặng  (heparin-induced thrombocytopenia).&lt;br /&gt;Liệu pháp heparin TLPTT là một  tiến bộ quan trọng trong điều trị huyết khối tĩnh mạch sâu. Nghiên cứu  đầu tiên so sánh một heparin TLPTT với heparin KPĐ trong chỉ định này là  nghiên cứu của Simonneau và cộng sự. Các tác giả phân ngẫu nhiên 134  bệnh nhân thành 2 nhóm, một nhóm được cho dùng enoxaparin 1 mg/kg tiêm  dưới da mỗi 12 giờ và nhóm còn lại được cho dùng heparin KPĐ truyền tĩnh  mạch với liều giữ cho aPTT bệnh nhân tăng gấp 1,5-2,5 lần so với ban  đầu 4. Hiệu quả điều trị được đánh giá bằng chụp cản quang tĩnh mạch (để  xác định huyết khối tĩnh mạch sâu có lan rộng hay không) và scan tưới  máu phổi (để chẩn đoán thuyên tắc động mạch phổi). Kết quả cho thấy tỉ  lệ huyết khối lan rộng là 1,5% ở nhóm enoxaparin và 7,5% ở nhóm heparin  KPĐ. Trong nhóm enoxaparin không có bệnh nhân nào bị thuyên tắc động  mạch phổi, trong khi ở nhóm heparin KPĐ có 2 bệnh nhân thuyên tắc động  mạch phổi. &lt;br /&gt;Tiếp theo thành công bước đầu này, Levine và cộng sự đã  thực hiện một thử nghiệm lâm sàng trên 500 bệnh nhân huyết khối tĩnh  mạch sâu cấp đoạn gần (từ tĩnh mạch khoeo trở lên) nhằm đánh giá khả  năng dùng enoxaparin ngoại trú 5. Bệnh nhân được phân ngẫu nhiên vào một  trong 2 nhóm, một nhóm được cho dùng heparin KPĐ truyền tĩnh mạch trong  bệnh viện với liều điều chỉnh để đạt aPTT trong khoảng 60-85 giây và  nhóm còn lại được cho dùng enoxaparin tiêm dưới da 1 mg/kg mỗi 12 giờ  chủ yếu ở nhà (bệnh nhân hoặc người nhà bệnh nhân được hướng dẫn cách  tiêm dưới da). Kết quả cho thấy tỉ lệ huyết khối tĩnh mạch sâu tái phát,  tỉ lệ thuyên tắc động mạch phổi và tỉ lệ chảy máu của 2 nhóm không khác  biệt. Trong nhóm enoxaparin có 120 bệnh nhân hoàn toàn không phải nhập  viện. Thời gian nằm viện của nhóm enoxaparin ngắn hơn có ý nghĩa so với  thời gian nằm viện của nhóm heparin KPĐ (bảng 1).&lt;/div&gt; &lt;div style="text-align: center;"&gt;&lt;br /&gt;&lt;/div&gt; &lt;div style="text-align: center;"&gt;&lt;strong&gt;Bảng 1: Các biến cố trong 2 nhóm enoxaparin và heparin không phân đoạn.&lt;/strong&gt;&lt;br /&gt; &lt;table style="border-collapse: collapse; width: 100%;" border="1" cellpadding="3" cellspacing="0"&gt; &lt;tbody style="text-align: left;"&gt; &lt;tr style="text-align: left;"&gt; &lt;td style="text-align: left;" valign="top" width="263"&gt; &lt;p&gt; &lt;/p&gt; &lt;/td&gt; &lt;td style="text-align: left;" valign="top" width="160"&gt; &lt;p&gt;Enoxaparin&lt;/p&gt; &lt;p&gt;(n = 247)&lt;/p&gt; &lt;/td&gt; &lt;td style="text-align: left;" valign="top" width="145"&gt; &lt;p&gt;Heparin   KPĐ&lt;/p&gt; &lt;p&gt;(n = 253)&lt;/p&gt; &lt;/td&gt; &lt;/tr&gt; &lt;tr style="text-align: left;"&gt; &lt;td style="text-align: left;" valign="top" width="263"&gt; &lt;p&gt;Huyết khối   tĩnh mạch sâu tái phát&lt;/p&gt; &lt;/td&gt; &lt;td style="text-align: left;" valign="top" width="160"&gt; &lt;p&gt;11&lt;/p&gt; &lt;/td&gt; &lt;td style="text-align: left;" valign="top" width="145"&gt; &lt;p&gt;15&lt;/p&gt; &lt;/td&gt; &lt;/tr&gt; &lt;tr style="text-align: left;"&gt; &lt;td style="text-align: left;" valign="top" width="263"&gt; &lt;p&gt;Thuyên tắc   động mạch phổi&lt;/p&gt; &lt;/td&gt; &lt;td style="text-align: left;" valign="top" width="160"&gt; &lt;p&gt;1&lt;/p&gt; &lt;/td&gt; &lt;td style="text-align: left;" valign="top" width="145"&gt; &lt;p&gt;2&lt;/p&gt; &lt;/td&gt; &lt;/tr&gt; &lt;tr style="text-align: left;"&gt; &lt;td style="text-align: left;" valign="top" width="263"&gt; &lt;p&gt;Cả 2 biến   cố&lt;/p&gt; &lt;/td&gt; &lt;td style="text-align: left;" valign="top" width="160"&gt; &lt;p&gt;1&lt;/p&gt; &lt;/td&gt; &lt;td style="text-align: left;" valign="top" width="145"&gt; &lt;p&gt;0&lt;/p&gt; &lt;/td&gt; &lt;/tr&gt; &lt;tr style="text-align: left;"&gt; &lt;td style="text-align: left;" valign="top" width="263"&gt; &lt;p&gt;Tổng số   ca&lt;/p&gt; &lt;/td&gt; &lt;td style="text-align: left;" valign="top" width="160"&gt; &lt;p&gt;13 (5,3%)&lt;/p&gt; &lt;/td&gt; &lt;td style="text-align: left;" valign="top" width="145"&gt; &lt;p&gt;17 (6,7%)&lt;/p&gt; &lt;/td&gt; &lt;/tr&gt; &lt;tr style="text-align: left;"&gt; &lt;td style="text-align: left;" valign="top" width="263"&gt; &lt;p&gt;Chảy máu&lt;/p&gt; &lt;/td&gt; &lt;td style="text-align: left;" valign="top" width="160"&gt; &lt;p&gt;5&lt;/p&gt; &lt;/td&gt; &lt;td style="text-align: left;" valign="top" width="145"&gt; &lt;p&gt;3&lt;/p&gt; &lt;/td&gt; &lt;/tr&gt; &lt;/tbody&gt; &lt;/table&gt;&lt;br /&gt;&lt;/div&gt; &lt;div style="text-align: justify;"&gt;Ngoài enoxaparin còn một số heparin TLPTT khác có thể dùng điều trị huyết khối tĩnh mạch sâu là dalteparin và tinzaparin.&lt;br /&gt;Theo  hướng dẫn của ACCP (American College of Chest Physicians) năm 2008,  heparin TLPTT được khuyến khích dùng hơn là heparin KPĐ trong điều trị  huyết khối tĩnh mạch sâu 3. Ngoại lệ là những trường hợp suy thận nặng: Ở  những bệnh nhân suy thận nặng heparin KPĐ được ưu tiên dùng hơn là  heparin TLPTT 3. Riêng đối với enoxaparin, có thể dùng liều 1 mg/kg mỗi  24 giờ cho những bệnh nhân có độ thanh thải creatinin dưới 30 ml/phút.   &lt;br /&gt;Fondaparinux là một pentasaccharide tổng hợp có khả năng ức chế  chọn lọc yếu tố Xa. Nghiên cứu Matisse trên 2205 bệnh nhân huyết khối  tĩnh mạch sâu cấp cho thấy fondaparinux tiêm dưới da một lần/ngày (5 mg  cho người cân nặng dưới 50 kg, 7,5 mg cho người cân nặng 50-100 kg, 10  mg cho người cân nặng trên 100 kg) có hiệu quả tương đương enoxaparin  trong việc ngăn ngừa huyết khối tĩnh mạch sâu tái phát 6. Hiện  fondaparinux cũng đã được chính thức công nhận trong chỉ định điều trị  huyết khối tĩnh mạch sâu cấp 3.&lt;br /&gt;Theo hướng dẫn của ACCP năm 2008, nên  bắt đầu thuốc kháng vitamin K uống sớm trong huyết khối tĩnh mạch sâu  cấp (cùng lúc với heparin TLPTT, heparin KPĐ hoặc fondaparinux) 3.  Heparin TLPTT, heparin KPĐ hoặc fondaparinux được dùng trong ít nhất 5  ngày và cho đến khi xét nghiệm INR (International Normalized Ratio) của  bệnh nhân đạt mức ³ 2 trong 24 giờ. Thời gian dùng thuốc kháng vitamin  uống là 3 tháng nếu nguyên nhân gây huyết khối tĩnh mạch sâu có thể đảo  ngược.&lt;br /&gt;Riêng trong trường hợp huyết khối tĩnh mạch sâu có liên quan  với bệnh ung thư, phác đồ được khuyến cáo là heparin TLPTT trong 3-6  tháng đầu, sau đó thuốc kháng vitamin K uống dùng vô thời hạn hoặc cho  đến khi bệnh ung thư được chữa dứt. Khoảng INR cần đạt với liệu pháp  kháng vitamin K là 2-3&lt;sup&gt; 3&lt;/sup&gt;.&lt;br /&gt;&lt;/div&gt; &lt;div style="text-align: justify;"&gt;&lt;br /&gt;&lt;/div&gt; &lt;div style="text-align: justify;"&gt;&lt;strong&gt;ĐIỀU TRỊ CHỐNG HUYẾT KHỐI TRONG THUYÊN TẮC ĐỘNG MẠCH PHỔI&lt;/strong&gt;&lt;br /&gt;Năm  2008 Hội Tim mạch Châu Âu đã đưa ra hướng dẫn mới về điều trị thuyên  tắc động mạch phổi cấp 7. Hướng dẫn này rất khác các hướng dẫn trước đây  ở phần xếp loại mức độ nặng và phân tầng nguy cơ. Trong hướng dẫn này  không còn dùng các tính từ “massive” hay “submassive” để chỉ mức độ nặng  của thuyên tắc động mạch phổi. Mức độ nặng được đánh giá dựa trên “nguy  cơ chết sớm liên quan với thuyên tắc động mạch phổi” (risk of pulmonary  embolism-related early death): nguy cơ cao (trên 15%), nguy cơ trung  gian (3-15%) và nguy cơ thấp (dưới 1%). Nguy cơ được ước lượng dựa vào 3  nhóm chỉ điểm: chỉ điểm lâm sàng, chỉ điểm của rối loạn chức năng thất  phải và chỉ điểm của tổn thương cơ tim (bảng 2). Những bệnh nhân có chỉ  điểm lâm sàng (choáng, tụt huyết áp) được xếp vào nhóm nguy cơ cao,  những người không có chỉ điểm lâm sàng được xếp vào nhóm nguy cơ không  cao gồm 2 phân nhóm là nguy cơ trung gian và nguy cơ thấp (bảng 3).&lt;/div&gt; &lt;div style="text-align: justify;"&gt;&lt;br /&gt;&lt;/div&gt; &lt;div style="text-align: justify;"&gt; &lt;div style="text-align: justify;"&gt; &lt;div style="text-align: center;"&gt;&lt;strong&gt;Bảng  2: Các chỉ điểm chính dùng để phân tầng nguy cơ trong thuyên tắc động  mạch phổi cấp.&lt;/strong&gt;&lt;br /&gt; &lt;table style="border-collapse: collapse; width: 100%;" border="1" cellpadding="3" cellspacing="0"&gt; &lt;tbody style="text-align: left;"&gt; &lt;tr style="text-align: left;"&gt; &lt;td style="text-align: left;" valign="top" width="239"&gt; &lt;p&gt;Chỉ điểm   lâm sàng&lt;/p&gt; &lt;/td&gt; &lt;td style="text-align: left;" valign="top" width="329"&gt; &lt;p&gt;Choáng&lt;/p&gt; &lt;p&gt;Tụt huyết   áp *&lt;/p&gt; &lt;/td&gt; &lt;/tr&gt; &lt;tr style="text-align: left;"&gt; &lt;td style="text-align: left;" valign="top" width="239"&gt; &lt;p&gt;Chỉ điểm   của rối loạn chức năng thất phải&lt;/p&gt; &lt;/td&gt; &lt;td style="text-align: left;" valign="top" width="329"&gt; &lt;p&gt;Thất phải   dãn, giảm động hoặc có tình trạng quá tải áp lực trên  siêu âm tim&lt;/p&gt; &lt;p style="text-align: justify;"&gt;Thất  phải   dãn trên CT xoắn ốc&lt;/p&gt; &lt;p&gt;Tăng BNP   hoặc NT-ProBNP&lt;/p&gt; &lt;p&gt;Tăng áp lực   buồng tim phải khi thông tim phải&lt;/p&gt; &lt;/td&gt; &lt;/tr&gt; &lt;tr style="text-align: left;"&gt; &lt;td style="text-align: left;" valign="top" width="239"&gt; &lt;p&gt;Chỉ điểm   của tổn thương cơ tim&lt;/p&gt; &lt;/td&gt; &lt;td style="text-align: left;" valign="top" width="329"&gt; &lt;p&gt;Troponin   T hoặc I dương tính&lt;/p&gt; &lt;/td&gt; &lt;/tr&gt; &lt;/tbody&gt; &lt;/table&gt; &lt;/div&gt; &lt;/div&gt; &lt;div style="text-align: justify;"&gt;&lt;br /&gt;&lt;/div&gt; &lt;div&gt;* Tụt huyết áp : huyết áp tâm thu dưới 90 mm Hg hoặc huyết  áp tụt ≥  40 mm Hg trong trên 15 phút nếu không phải do rối loạn nhịp  tim mới  xuất hiện, giảm thể tích tuần hoàn hoặc nhiễm trùng.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;div style="text-align: center;"&gt;&lt;strong&gt;Bảng  3: Phân tầng nguy cơ dựa vào nguy cơ chết sớm liên quan với thuyên tắc  động mạch phổi.&lt;/strong&gt;&lt;br /&gt;&lt;/div&gt; &lt;div&gt;  &lt;table style="border-collapse: collapse; width: 100%; text-align: center;" border="1" cellpadding="3" cellspacing="0"&gt; &lt;tbody style="text-align: left;"&gt; &lt;tr style="text-align: left;"&gt; &lt;td style="text-align: left;" colspan="2" rowspan="2" valign="top" width="159"&gt; &lt;p&gt;Nguy cơ   chết sớm liên quan với thuyên tắc động mạch phổi&lt;/p&gt; &lt;/td&gt; &lt;td style="text-align: left;" colspan="3" valign="top" width="295"&gt; &lt;p&gt;Chỉ điểm&lt;/p&gt; &lt;/td&gt; &lt;td style="text-align: left;" rowspan="2" valign="top" width="114"&gt; &lt;p&gt;Ảnh hưởng   đối với điều trị&lt;/p&gt; &lt;/td&gt; &lt;/tr&gt; &lt;tr style="text-align: left;"&gt; &lt;td style="text-align: left;" valign="top" width="88"&gt;  &lt;p style="text-align: center;"&gt;Lâm  sàng&lt;/p&gt; &lt;/td&gt; &lt;td style="text-align: left;" valign="top" width="112"&gt;  &lt;p style="text-align: center;"&gt;Rối  loạn   chức năng thất phải&lt;/p&gt; &lt;/td&gt; &lt;td style="text-align: left;" valign="top" width="95"&gt;  &lt;p style="text-align: center;"&gt;Tổn  thương   cơ tim&lt;/p&gt; &lt;/td&gt; &lt;/tr&gt; &lt;tr style="text-align: left;"&gt; &lt;td style="text-align: left;" colspan="2" valign="top" width="159"&gt;  &lt;p style="text-align: center;"&gt;Cao (trên   15%)&lt;/p&gt; &lt;/td&gt; &lt;td style="text-align: left;" valign="top" width="88"&gt;  &lt;p style="text-align: center;"&gt;&lt;strong&gt;+&lt;/strong&gt;&lt;/p&gt; &lt;/td&gt; &lt;td style="text-align: left;" valign="top" width="112"&gt;  &lt;p style="text-align: center;"&gt;&lt;strong&gt;(+)&lt;/strong&gt; *&lt;/p&gt; &lt;/td&gt; &lt;td style="text-align: left;" valign="top" width="95"&gt;  &lt;p style="text-align: center;"&gt;&lt;strong&gt; (+)&lt;/strong&gt; *&lt;/p&gt; &lt;/td&gt; &lt;td style="text-align: left;" valign="top" width="114"&gt; &lt;p&gt;Thuốc   tiêu sợi huyết hoặc phẫu thuật&lt;/p&gt; &lt;/td&gt; &lt;/tr&gt; &lt;tr style="text-align: left;"&gt; &lt;td style="text-align: left;" rowspan="4" valign="top" width="63"&gt;  &lt;p style="text-align: center;"&gt;Không cao&lt;/p&gt; &lt;/td&gt; &lt;td style="text-align: left;" rowspan="3" valign="top" width="96"&gt;  &lt;p style="text-align: center;"&gt;Trung   gian&lt;/p&gt; &lt;p style="text-align: center;"&gt;(3-15%)&lt;/p&gt; &lt;/td&gt; &lt;td style="text-align: left;" rowspan="3" valign="top" width="88"&gt;  &lt;p style="text-align: center;"&gt;&lt;strong&gt;-&lt;/strong&gt;&lt;/p&gt; &lt;/td&gt; &lt;td style="text-align: left;" valign="top" width="112"&gt;  &lt;p style="text-align: center;"&gt;&lt;strong&gt;+&lt;/strong&gt;&lt;/p&gt; &lt;/td&gt; &lt;td style="text-align: left;" valign="top" width="95"&gt;  &lt;p style="text-align: center;"&gt;&lt;strong&gt;+&lt;/strong&gt;&lt;/p&gt; &lt;/td&gt; &lt;td style="text-align: left;" rowspan="3" valign="top" width="114"&gt; &lt;p&gt;Cho bệnh   nhân nhập viện&lt;/p&gt; &lt;/td&gt; &lt;/tr&gt; &lt;tr style="text-align: left;"&gt; &lt;td style="text-align: left;" valign="top" width="112"&gt;  &lt;p style="text-align: center;"&gt;&lt;strong&gt;+&lt;/strong&gt;&lt;/p&gt; &lt;/td&gt; &lt;td style="text-align: left;" valign="top" width="95"&gt;  &lt;p style="text-align: center;"&gt;&lt;strong&gt;-&lt;/strong&gt;&lt;/p&gt; &lt;/td&gt; &lt;/tr&gt; &lt;tr style="text-align: left;"&gt; &lt;td style="text-align: left;" valign="top" width="112"&gt;  &lt;p style="text-align: center;"&gt;&lt;strong&gt;-&lt;/strong&gt;&lt;/p&gt; &lt;/td&gt; &lt;td style="text-align: left;" valign="top" width="95"&gt;  &lt;p style="text-align: center;"&gt;&lt;strong&gt;+&lt;/strong&gt;&lt;/p&gt; &lt;/td&gt; &lt;/tr&gt; &lt;tr style="text-align: left;"&gt; &lt;td style="text-align: left;" valign="top" width="96"&gt;  &lt;p style="text-align: center;"&gt;Thấp&lt;/p&gt; &lt;p style="text-align: center;"&gt;(dưới 1%)&lt;/p&gt; &lt;/td&gt; &lt;td style="text-align: left;" valign="top" width="88"&gt;  &lt;p style="text-align: center;"&gt;&lt;strong&gt;-&lt;/strong&gt;&lt;/p&gt; &lt;/td&gt; &lt;td style="text-align: left;" valign="top" width="112"&gt;  &lt;p style="text-align: center;"&gt;&lt;strong&gt;-&lt;/strong&gt;&lt;/p&gt; &lt;/td&gt; &lt;td style="text-align: left;" valign="top" width="95"&gt;  &lt;p style="text-align: center;"&gt;&lt;strong&gt;-&lt;/strong&gt;&lt;/p&gt; &lt;/td&gt; &lt;td style="text-align: left;" valign="top" width="114"&gt; &lt;p&gt;Xuất viện   sớm hoặc điều trị ngoại trú&lt;/p&gt; &lt;/td&gt; &lt;/tr&gt; &lt;/tbody&gt; &lt;/table&gt; &lt;/div&gt; &lt;/div&gt; &lt;div style="text-align: justify;"&gt;&lt;br /&gt;&lt;/div&gt; &lt;/div&gt; &lt;div style="text-align: justify;"&gt;* Nếu  bệnh nhân đã bị choáng hoặc tụt  huyết áp thì không cần thiết phải xác  định rối loạn chức năng thất  phải hoặc tổn thương cơ tim để xếp vào nhóm  nguy cơ cao.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Điều trị chống huyết khối của 2 nhóm nguy cơ cao và nguy cơ không cao rất khác nhau.&lt;br /&gt;&lt;strong&gt;&lt;/strong&gt;&lt;/div&gt; &lt;div style="text-align: justify;"&gt;&lt;br /&gt;&lt;/div&gt; &lt;div style="text-align: justify;"&gt;&lt;strong&gt;1. Điều trị chống huyết khối trong thuyên tắc động mạch phổi nguy cơ cao:&lt;/strong&gt;&lt;br /&gt;Phân  tích gộp số liệu của 5 thử nghiệm lâm sàng phân nhóm ngẫu nhiên có bao  gồm những bệnh nhân thuyên tắc động mạch phổi nguy cơ cao cho thấy liệu  pháp tiêu sợi huyết giảm có ý nghĩa nguy cơ chết hoặc thuyên tắc động  mạch phổi tái phát 8. Theo hướng dẫn 2008 của Hội Tim mạch Châu Âu, bệnh  nhân thuyên tắc động mạch phổi cấp nguy cơ cao cần được điều trị bằng  thuốc tiêu sợi huyết (trừ khi có chống chỉ định với thuốc tiêu sợi  huyết) 7. Các phác đồ thuốc tiêu sợi huyết được chấp nhận được nêu trên  bảng 4. Trong trường hợp bệnh nhân có chống chỉ định tuyệt đối với thuốc  tiêu sợi huyết hoặc đã dùng thuốc tiêu sợi huyết nhưng thất bại, phẫu  thuật lấy huyết khối trong động mạch phổi là cách tiếp cận tốt nhất.  Thông tim lấy huyết khối có thể được xem xét nếu không có điều kiện thực  hiện phẫu thuật, tuy nhiên hiệu quả cũng như tính an toàn của thủ thuật  này chưa được xác định chắc chắn. Thuốc chống đông được khuyến cáo đối  với bệnh nhân thuyên tắc động mạch phổi nguy cơ cao là heparin KPĐ  truyền tĩnh mạch &lt;sup&gt;7&lt;/sup&gt;.&lt;/div&gt; &lt;div style="text-align: justify;"&gt;&lt;br /&gt;&lt;/div&gt; &lt;div style="text-align: justify;"&gt; &lt;div style="text-align: center;"&gt;&lt;strong&gt;Bảng 4: Các phác đồ thuốc tiêu sợi huyết điều trị thuyên tắc động mạch phổi cấp nguy cơ cao.&lt;/strong&gt;&lt;br /&gt;&lt;/div&gt; &lt;div style="text-align: center;"&gt; &lt;table style="border-collapse: collapse; width: 100%;" border="1" cellpadding="3" cellspacing="0"&gt; &lt;tbody style="text-align: left;"&gt; &lt;tr style="text-align: left;"&gt; &lt;td style="text-align: left;" rowspan="2" valign="top" width="119"&gt; &lt;p&gt;Streptokinase&lt;/p&gt; &lt;/td&gt; &lt;td style="text-align: left;" valign="top" width="449"&gt; &lt;p&gt;Liều nạp   250.000 IU trong 30 phút, sau đó 100.000 IU/giờ trong 12-24 giờ&lt;/p&gt; &lt;/td&gt; &lt;/tr&gt; &lt;tr style="text-align: left;"&gt; &lt;td style="text-align: left;" valign="top" width="449"&gt; &lt;p&gt;Phác đồ   nhanh: 1,5 triệu IU trong 2 giờ&lt;/p&gt; &lt;/td&gt; &lt;/tr&gt; &lt;tr style="text-align: left;"&gt; &lt;td style="text-align: left;" rowspan="2" valign="top" width="119"&gt; &lt;p&gt;Urokinase&lt;/p&gt; &lt;/td&gt; &lt;td style="text-align: left;" valign="top" width="449"&gt; &lt;p&gt;Liều nạp   4400 IU/kg trong 10 phút, sau đó 4400 IU/kg/giờ trong 12-24 giờ&lt;/p&gt; &lt;/td&gt; &lt;/tr&gt; &lt;tr style="text-align: left;"&gt; &lt;td style="text-align: left;" valign="top" width="449"&gt; &lt;p&gt;Phác đồ   nhanh: 3 triệu IU trong 3 giờ&lt;/p&gt; &lt;/td&gt; &lt;/tr&gt; &lt;tr style="text-align: left;"&gt; &lt;td style="text-align: left;" rowspan="2" valign="top" width="119"&gt; &lt;p&gt;rtPA&lt;/p&gt; &lt;/td&gt; &lt;td style="text-align: left;" valign="top" width="449"&gt; &lt;p&gt;100 mg   trong 2 giờ, hoặc&lt;/p&gt; &lt;/td&gt; &lt;/tr&gt; &lt;tr style="text-align: left;"&gt; &lt;td style="text-align: left;" valign="top" width="449"&gt; &lt;p&gt;0,6 mg/kg   trong 15 phút (liều tối đa 50 mg)&lt;/p&gt; &lt;/td&gt; &lt;/tr&gt; &lt;/tbody&gt; &lt;/table&gt; &lt;/div&gt; &lt;/div&gt; &lt;div style="text-align: justify;"&gt;&lt;br /&gt;&lt;/div&gt; &lt;div style="text-align: justify;"&gt;&lt;strong&gt;2. Điều trị chống huyết khối trong thuyên tắc động mạch phổi nguy cơ không cao:&lt;/strong&gt;&lt;br /&gt;Trong  thuyên tắc động mạch phổi nguy cơ không cao thuốc chống đông được lựa  chọn là heparin TLPTT (enoxaparin, tinzaparin) hoặc fondaparinux. Các  phác đồ dùng thuốc được nêu trên bảng 5. Heparin KPĐ được khuyên dùng  cho những bệnh nhân suy thận nặng hoặc có nguy cơ chảy máu cao.&lt;br /&gt;Trong  số những bệnh nhân thuyên tắc động mạch phổi nguy cơ không cao có một  phân nhóm nguy cơ trung gian (có chỉ điểm rối loạn chức năng thất phải  và/hoặc tổn thương cơ tim). Một thử nghiệm lâm sàng công bố gần đây cho  thấy đối với những bệnh nhân dạng này, thuốc tiêu sợi huyết dùng ngay từ  ban đầu giảm nguy cơ phải dùng thuốc tiêu sợi huyết khẩn sau đó (do  tình trạng bệnh nhân trở nặng) nhưng không giảm tử vong 9. Theo hướng  dẫn 2008 của Hội Tim mạch Châu Âu, có thể xem xét việc dùng thuốc tiêu  sợi huyết cho một số bệnh nhân thuyên tắc động mạch phổi nguy cơ trung  gian được chọn lọc, không có nguy cơ chảy máu cao (khuyến cáo này được  xếp loại IIb) 7.&lt;br /&gt;Điều trị chống đông dài hạn sau một đợt thuyên tắc  động mạch phổi cũng giống điều trị chống đông dài hạn sau huyết khối  tĩnh mạch sâu: (1) Nếu nguyên nhân gây thuyên tắc động mạch phổi là  thoáng qua (có thể đảo ngược), dùng thuốc kháng vitamin K uống với liều  đủ để duy trì INR trong khoảng 2-3, thời gian 3 tháng; (2) Nếu biến cố  có liên quan với ung thư, dùng heparin TLPTT trong 3-6 tháng, sau đó  dùng thuốc kháng vitamin K uống vô thời hạn hoặc cho đến khi ung thư  được chữa dứt &lt;sup&gt;7&lt;/sup&gt;.&lt;/div&gt; &lt;div style="text-align: justify;"&gt;&lt;br /&gt;&lt;/div&gt; &lt;div style="text-align: justify;"&gt; &lt;div style="text-align: center;"&gt;&lt;strong&gt;Bảng 5: Các phác đồ chống đông (tiêm dưới da) trong thuyên tắc động mạch phổi nguy cơ không cao.&lt;/strong&gt;&lt;br /&gt; &lt;table style="border-collapse: collapse; width: 100%;" border="1" cellpadding="3" cellspacing="0"&gt; &lt;tbody style="text-align: left;"&gt; &lt;tr style="text-align: left;"&gt; &lt;td style="text-align: left;" valign="top" width="135"&gt; &lt;p&gt; &lt;/p&gt; &lt;/td&gt; &lt;td style="text-align: left;" valign="top" width="264"&gt; &lt;p&gt;Liều&lt;/p&gt; &lt;/td&gt; &lt;td style="text-align: left;" valign="top" width="169"&gt; &lt;p&gt;Khoảng   cách&lt;/p&gt; &lt;/td&gt; &lt;/tr&gt; &lt;tr style="text-align: left;"&gt; &lt;td style="text-align: left;" valign="top" width="135"&gt; &lt;p&gt;Enoxaparin&lt;/p&gt; &lt;/td&gt; &lt;td style="text-align: left;" valign="top" width="264"&gt; &lt;p&gt;1 mg/kg&lt;/p&gt; &lt;p&gt;hoặc 1,5   mg/kg *&lt;/p&gt; &lt;/td&gt; &lt;td style="text-align: left;" valign="top" width="169"&gt; &lt;p&gt;Mỗi 12 giờ&lt;/p&gt; &lt;p&gt;Một lần/ngày   *&lt;/p&gt; &lt;/td&gt; &lt;/tr&gt; &lt;tr style="text-align: left;"&gt; &lt;td style="text-align: left;" valign="top" width="135"&gt; &lt;p&gt;Tinzaparin&lt;/p&gt; &lt;/td&gt; &lt;td style="text-align: left;" valign="top" width="264"&gt; &lt;p&gt;175 U/kg&lt;/p&gt; &lt;/td&gt; &lt;td style="text-align: left;" valign="top" width="169"&gt; &lt;p&gt;Một lần/ngày&lt;/p&gt; &lt;/td&gt; &lt;/tr&gt; &lt;tr style="text-align: left;"&gt; &lt;td style="text-align: left;" valign="top" width="135"&gt; &lt;p&gt;Fondaparinux&lt;/p&gt; &lt;/td&gt; &lt;td style="text-align: left;" valign="top" width="264"&gt; &lt;p&gt;5 mg (cân   nặng dưới 50 kg)&lt;/p&gt; &lt;p&gt;7,5 mg   (cân nặng 50-100 kg)&lt;/p&gt; &lt;p&gt;10 mg   (cân nặng trên 100 kg&lt;/p&gt; &lt;/td&gt; &lt;td style="text-align: left;" valign="top" width="169"&gt; &lt;p&gt;Một lần/ngày&lt;/p&gt; &lt;/td&gt; &lt;/tr&gt; &lt;/tbody&gt; &lt;/table&gt; &lt;/div&gt; &lt;/div&gt; &lt;div style="text-align: justify;"&gt;&lt;br /&gt;&lt;/div&gt; &lt;div style="text-align: justify;"&gt;* Enoxaparin 1,5 mg/kg tiêm dưới da  một lần/ngày được chấp thuận cho dùng để điều trị nội trú thuyên tắc  động mạch tại Hoa Kỳ và một số nước Châu Âu.&lt;br /&gt;&lt;/div&gt; &lt;div style="text-align: justify;"&gt;&lt;br /&gt;&lt;/div&gt; &lt;strong&gt;TÀI LIỆU THAM KHẢO&lt;/strong&gt;&lt;br /&gt;1)    Tapson VF. Acute pulmonary embolism. N Engl J Med 2008;358:1037-1052.&lt;br /&gt;2)    Konstantinides SV. Acute pulmonary embolism revisited: Thromboembolic venous disease. Heart 2008;94:795-802.&lt;br /&gt;3)     Kearon C, Kahn SR, Agnelli G, et al. Antithrombotic therapy for venous  thromboembolic disease. American College of Chest Physicians  Evidence-based clinical practice guidelines (8th edition). Chest  2008;133:454S-545S.&lt;br /&gt;4)    Simonneau G, Charbonnier B, Decousus H, et  al. Subcutaneous low-molecular-weight heparin compared with continuous  intravenous unfractionnated heparin in the treatment of proximal deep  vein thrombosis. Arch Intern Med 1993;153:1541-1546.&lt;br /&gt;5)    Levine M,  Gent M, Hirsh J, et al. A comparison of low-molecular-weight heparin  administered primarily at home with unfractionnated heparin administered  in the hospital for proximal deep-vein thrombosis. N Engl J Med  1996;334:677-681.&lt;br /&gt;6)    Buller HR, Davidson BL, Decousus H, et al;  for the Matisse Investigators. Fondaparinux or enoxaparin for the  initial treatment of symptomatic deep venous thrombosis. A randomised  trial. Ann Intern Med 2004;140;867-873.&lt;br /&gt;7)    Torbicki A, Perrier A,  Konstantinides A, et al. Guidelines on the diagnosis and management of  acute pulmonary embolism. The Task Force for the diagnosis and  management of acute pulmonary embolism of the European Society of  Cardiology (ESC). Eur Heart J 2008;29:2276-2315.&lt;br /&gt;8)    Wan S, Quinlan  DJ, Agnelli G, Eikelboom JW. Thrombolysis compared with heparin for the  initial treatment of pulmonary embolism: a meta-analysis of the  randomized controlled trials. Circulation 2004;110:744-749.&lt;br /&gt;Konstantinides  S, Geibel A, Heusel G, et al. Heparin plus alteplase compared with  heparin alone in patients with submassive pulmonary embolism. N Engl J  Med 2002;347:1143-1150&lt;div style="text-align: justify;"&gt;&lt;br /&gt;theo timmachhoc.vn&lt;br /&gt;&lt;p&gt;-----------------------------------&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Giảng Đường Y Khoa&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;a href="http://giangduongykhoa.blogspot.com/"&gt;http://giangduongykhoa.blogspot.com&lt;/a&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;a href="http://giangduongykhoa.net/"&gt;http://giangduongykhoa.net&lt;/a&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;-----------------------------------&lt;/p&gt;&lt;/div&gt;&lt;div class="blogger-post-footer"&gt;Giảng Đường Y Khoa - Nơi Hội Tụ Kiến Thức Y Khoa&lt;img width='1' height='1' src='https://blogger.googleusercontent.com/tracker/8347068896071358659-7264573046962159582?l=giangduongykhoa.blogspot.com' alt='' /&gt;&lt;/div&gt;</content><link rel='replies' type='application/atom+xml' href='http://giangduongykhoa.blogspot.com/feeds/7264573046962159582/comments/default' title='Đăng Nhận xét'/><link rel='replies' type='text/html' href='http://giangduongykhoa.blogspot.com/2010/12/ieu-tri-chong-huyet-khoi-trong-benh.html#comment-form' title='0 Nhận xét'/><link rel='edit' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/8347068896071358659/posts/default/7264573046962159582'/><link rel='self' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/8347068896071358659/posts/default/7264573046962159582'/><link rel='alternate' type='text/html' href='http://giangduongykhoa.blogspot.com/2010/12/ieu-tri-chong-huyet-khoi-trong-benh.html' title='Điều trị chống huyết khối trong bệnh thuyên tắc huyết khối tĩnh mạch'/><author><name>Giảng Đường Y Khoa</name><uri>http://www.blogger.com/profile/01045762399869292181</uri><email>noreply@blogger.com</email><gd:image rel='http://schemas.google.com/g/2005#thumbnail' width='32' height='32' src='http://1.bp.blogspot.com/_iO0u_-8tJ8E/S95LXKfU_tI/AAAAAAAAAcY/p80KgeQ8pf0/S220/logo-1.png'/></author><thr:total>0</thr:total></entry><entry><id>tag:blogger.com,1999:blog-8347068896071358659.post-741445104566944994</id><published>2010-12-16T05:24:00.000-08:00</published><updated>2010-12-16T05:24:00.618-08:00</updated><category scheme='http://www.blogger.com/atom/ns#' term='Nội Khoa - tim mạch'/><title type='text'>Tương tác bệnh lý Tim-Thận: Dịch tễ, cơ chế bệnh sinh và điều trị</title><content type='html'>&lt;p&gt;&lt;/p&gt;&lt;div style="text-align: right;"&gt;&lt;strong&gt;ThS. Hồ Huỳnh Quang Trí&lt;br /&gt;Viện Tim TP.HCM&lt;/strong&gt;&lt;/div&gt; &lt;div style="text-align: right;"&gt;&lt;br /&gt;&lt;/div&gt; &lt;div style="text-align: justify;"&gt;&lt;strong&gt;MỐI LIÊN HỆ GIỮA BỆNH THẬN MẠN VÀ BỆNH TIM MẠCH&lt;/strong&gt;&lt;br /&gt;Năm  2002 Tổ chức Thận Quốc gia của Hoa Kỳ (National Kidney Foundation) đưa  ra hướng dẫn thực hành về đánh giá, phân loại và phân tầng nguy cơ bệnh  thận mạn 1. Theo hướng dẫn này, bệnh thận mạn được định nghĩa là : (1)  tổn thương thận từ ³ 3 tháng, có hoặc không kèm giảm độ lọc cầu thận,  hoặc (2) độ lọc cầu thận &lt;&gt;2&lt;/sup&gt; từ ³ 3  tháng, có hoặc không kèm tổn thương thận. Tổn thương thận được xác định  bởi sinh thiết thận hoặc những chỉ điểm như đạm niệu, bất thường của cặn  lắng nước tiểu hoặc bất thường trên các khảo sát hình ảnh học. Dựa vào  định nghĩa này, Tổ chức Thận Quốc gia ước tính có khoảng 10,9% dân số  Hoa Kỳ có bệnh thận mạn ở những giai đoạn khác nhau từ 1 đến 5 (giai  đoạn 5 được gọi là suy thận, tương ứng với độ lọc cầu thận &lt;&gt;2&lt;/sup&gt; hoặc bệnh nhân phải chạy thận nhân tạo định kỳ) 1.&lt;br /&gt;Mối  liên hệ chặt chẽ giữa bệnh thận mạn với bệnh tim mạch đã được nhận diện  bởi nhiều nghiên cứu dịch tễ lớn, đáng kể nhất là nghiên cứu của Keith  và cộng sự dựa vào số liệu của tổ chức bảo hiểm Kaiser Permanente 2.  Nghiên cứu trên 27.998 người bệnh thận mạn này cho thấy rất nhiều người  bệnh thận mạn chết vì bệnh mạch vành hoặc suy tim trước khi được điều  trị thay thế thận (thận nhân tạo, ghép thận), điển hình là sau 5 năm tỉ  lệ điều trị thay thế thận ở những người bệnh thận mạn giai đoạn 2,3 và 4  là 1,1%, 1,3% và 19,9%, nhưng tỉ lệ chết do bệnh tim mạch tương ứng lên  đến 19,5%, 24,3% và 45,7%. Một nhóm nhà nghiên cứu thuộc trường đại học  California cũng dựa vào số liệu của Kaiser Permanente để khảo sát mối  tương quan giữa độ lọc cầu thận với nguy cơ chết và biến cố tim mạch  nặng 3. Kết quả khảo sát cho thấy độ lọc cầu thận càng thấp thì nguy cơ  chết lẫn nguy cơ bị các biến cố tim mạch nặng đều tăng có ý nghĩa. Trên  hình 1 là tần suất các biến cố tim mạch nặng ở các nhóm đối tượng có độ  lọc cầu thận = 60, 45-59, 30-44, 15-29 và &lt;&gt;2&lt;/sup&gt;.&lt;/div&gt; &lt;div style="text-align: justify;"&gt;&lt;br /&gt;&lt;/div&gt; &lt;div style="text-align: center;"&gt;&lt;strong&gt;Hình 1: Tần suất các biến cố  tim mạch nặng (/100 bệnh nhân-năm) ở các nhóm đối tượng có độ lọc cầu  thận ước tính (Estimated GFR) = 60, 45-59, 30-44, 15-29 và &lt;&gt;2&lt;/sup&gt;.&lt;/strong&gt;&lt;br /&gt;&lt;/div&gt; &lt;div style="text-align: center;"&gt;&lt;img style="border: 1px solid rgb(0, 0, 0);" alt="Tim-than-h1" src="http://timmachhoc.vn/images/stories/tongquantimmach/Tim-than-h1.jpg" width="500" height="431" /&gt;&lt;br /&gt;&lt;/div&gt; &lt;div style="text-align: justify;"&gt;&lt;br /&gt;&lt;/div&gt; &lt;div style="text-align: justify;"&gt;Trong nghiên cứu đoàn hệ  Cardiovascular Health Study trên 4.893 người cao tuổi (³ 65 tuổi), vai  trò dự báo các biến cố tim mạch nặng của độ lọc cầu thận được xác định  bằng mô hình hồi qui Cox 4. Kết quả phân tích cho thấy độ lọc cầu thận  là một yếu tố dự báo độc lập các biến cố tim mạch nặng : Ứng với mỗi mức  giảm độ lọc cầu thận 10 ml/phút/1,73 m&lt;sup&gt;2&lt;/sup&gt;, nguy cơ bị các biến cố tim mạch nặng tăng 1,05 lần (KTC 95% 1,02-1,09).&lt;br /&gt;Tần  suất lưu hành bệnh thận mạn ở những người bệnh tim mạch do xơ vữa động  mạch cao hơn so với trong dân số chung 5. Ở những bệnh nhân này, sự hiện  diện bệnh thận mạn làm tăng có ý nghĩa tử vong và nguy cơ bị các biến  cố tim mạch nặng 6. Do nhận thức được mối liên hệ giữa bệnh thận mạn và  bệnh tim mạch, năm 2006 Hiệp hội Tim Hoa Kỳ phối hợp với Tổ chức Thận  Quốc gia đã đưa ra khuyến cáo về vấn đề tầm soát bệnh thận mạn ở những  người có bệnh tim mạch hoặc có nguy cơ cao mắc bệnh tim mạch 7. Khuyến  cáo này nêu rõ nên tầm soát bệnh thận mạn qua việc ước tính độ lọc cầu  thận và đo tỉ số albumin/creatinin nước tiểu cho tất cả những người bệnh  tim mạch người lớn.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;strong&gt;CƠ CHẾ CỦA SỰ TƯƠNG TÁC BỆNH LÝ TIM-THẬN&lt;/strong&gt;&lt;br /&gt;Trong  các thận có từ 500.000 đến 1 triệu vi cầu thận. Độ lọc cầu thận tùy  thuộc vào hoạt động của búi mao mạch hiện diện trong các vi cầu thận  này. Do đó giảm độ lọc cầu thận phản ánh rối loạn tuần hoàn ở mức vi  mạch. Sự hiện diện albumin trong nước tiểu cũng phản ánh rối loạn tuần  hoàn ở mức vi mạch cũng như rối loạn chức năng nội mô mạch máu 8. Đây là  một trong những cơ sở giải thích sự tương tác bệnh lý tim-thận.&lt;br /&gt;Nhiều  nghiên cứu cho thấy ở người bệnh thận mạn, nhất là người có giảm độ lọc  cầu thận, có sự tăng stress oxy hóa, sự hiện diện của hiện tượng viêm  (biểu hiện là tăng CRP), sự tích tụ phosphate dẫn đến vôi hóa lớp trung  mạc động mạch, hiện tượng thiếu máu mạn và phì đại thất trái 5,9,10. Tất  cả các yếu tố này đều làm tăng nguy cơ mắc bệnh tim mạch. Hơn nữa, các  khảo sát dịch tễ cũng cho thấy trong dân số những người bệnh thận mạn  tần suất lưu hành một số yếu tố nguy cơ tim mạch “cổ điển” cao hơn có ý  nghĩa so với trong dân số chung : tuổi cao, tăng huyết áp, đái tháo  đường, HDL thấp và ít vận động thể lực 5,9.&lt;br /&gt;Sự tăng hoạt tính hệ  renin-angiotensin cũng là một cơ chế quan trọng trong tương tác  tim-thận. Sự tăng hoạt tính hệ renin-angiotensin một mặt là hệ quả của  rối loạn chức năng tim, mặt khác lại có ảnh hưởng bất lợi đối với cả hệ  tim mạch lẫn thận : gây rối loạn chức năng nội mô mạch máu, phì đại tim  và thành mạch, tái định dạng mạch máu, rối loạn huyết động trong cầu  thận, xơ hóa và mất nephron trong thận &lt;sup&gt;11,12&lt;/sup&gt;.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;strong&gt;BẢO VỆ TIM-THẬN : LỢI ÍCH CỦA VIỆC KIỂM SOÁT HUYẾT ÁP&lt;/strong&gt;&lt;br /&gt;Ngày  nay không còn ai nghi ngờ gì về lợi ích của việc kiểm soát huyết áp  trong việc bảo vệ tim mạch. Phân tích gộp số liệu của 29 thử nghiệm lâm  sàng do nhóm nghiên cứu BPLTTC (Blood Pressure Lowering Treatment  Trialists’ Collaboration) thực hiện cho thấy kiểm soát huyết áp bằng các  nhóm thuốc khác nhau giúp giảm từ 18% đến 22% nguy cơ bị các biến cố  tim mạch nặng &lt;sup&gt;13&lt;/sup&gt;.&lt;br /&gt;Đối với thận, việc kiểm soát huyết áp  cũng mang lại lợi ích rất lớn. Theo phân tích của Bakris và cộng sự từ  số liệu của 9 nghiên cứu trên người bệnh thận mạn do đái tháo đường hoặc  không, ở người bệnh tăng huyết áp không được điều trị, độ lọc cầu thận  giảm trung bình 12 ml/phút mỗi năm 14. Nếu điều trị để đưa huyết áp về  mức 140/90 mm Hg, độ lọc cầu thận giảm trung bình 6 ml/phút mỗi năm và  nếu đưa huyết áp về mức dưới 130/85 mm Hg thì độ lọc cầu thận chỉ giảm 2  ml/phút mỗi năm &lt;sup&gt;14&lt;/sup&gt;.&lt;br /&gt;Một điểm rất đáng lưu ý là ngay cả ở  những người bệnh thận giai đoạn cuối phải chạy thận nhân tạo định kỳ,  kiểm soát huyết áp cũng có hiệu quả bảo vệ tim mạch. Mới đây một nhóm  nhà nghiên cứu đã công bố trên báo “The Lancet” một phân tích gộp số  liệu của 8 thử nghiệm lâm sàng trên 1679 người bệnh thận giai đoạn cuối  phải chạy thận nhân tạo định kỳ : Hạ huyết áp tâm thu 4,5 mm Hg và huyết  áp tâm trương 2,3 mm Hg giúp giảm 29% nguy cơ bị các biến cố tim mạch  nặng, 20% tử vong do mọi nguyên nhân và 29% tử vong do nguyên nhân tim  mạch (tất cả các mức giảm đều có ý nghĩa thống kê) &lt;sup&gt;15&lt;/sup&gt;.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;strong&gt;BẢO VỆ TIM-THẬN: LỢI ÍCH CỦA LIỆU PHÁP ỨC CHẾ MEN CHUYỂN ANGIOTENSIN&lt;/strong&gt;&lt;br /&gt;Hệ  renin-angiotensin đóng vai trò quan trọng trong bệnh sinh các tổn  thương của hệ tim mạch và thận, do đó có một câu hỏi được nhiều nhà  nghiên cứu đặt ra là liệu ức chế hệ này có mang lại một lợi ích thêm vào  lợi ích của việc hạ huyết áp hay không.&lt;br /&gt;Nghiên cứu HOPE (Heart  Outcomes Prevention Evaluation) cung cấp chứng cứ thuyết phục về hiệu  quả bảo vệ tim mạch độc lập với tác dụng hạ huyết áp của liệu pháp ức  chế men chuyển ở người đã có hoặc có nguy cơ cao mắc bệnh tim mạch do xơ  vữa động mạch &lt;sup&gt;16&lt;/sup&gt;.&lt;br /&gt;HOPE là một thử nghiệm lâm sàng phân  nhóm ngẫu nhiên mù đôi. Đối tượng tham gia là những người tuổi ³ 55, có  tiền sử bệnh mạch vành, đột quị, bệnh mạch máu ngoại vi hoặc đái tháo  đường kèm ít nhất một yếu tố nguy cơ tim mạch (tăng huyết áp, tăng  cholesterol toàn phần, HDL thấp, hút thuốc hoặc albumin niệu vi lượng).  Tiêu chuẩn loại trừ gồm : suy tim, phân suất tống máu &lt; 40%, đang  dùng thuốc ức chế men chuyển, có tăng huyết áp không được kiểm soát,  bệnh thận toàn phát, bị nhồi máu cơ tim hoặc đột quị trong vòng 4 tuần  trước. Bệnh nhân được phân ngẫu nhiên cho dùng thuốc ức chế men chuyển  ramipril (liều tăng dần từ 2,5 mg đến 10 mg/ngày) hoặc placebo. Tiêu chí  đánh giá chính là phối hợp các biến cố nhồi máu cơ tim, đột quị và chết  do nguyên nhân tim mạch. Tổng cộng có 9297 bệnh nhân được đưa vào  nghiên cứu. Bệnh nhân có tuổi trung bình 66 ± 7, 26% là nữ, 80% có tiền  sử bệnh mạch vành, 11% có tiền sử đột quị hoặc cơn thiếu máu não thoáng  qua, 43% có bệnh mạch máu ngoại vi, 47% có tăng huyết áp, 38% có đái  tháo đường và 21% có albumin niệu vi lượng.&lt;br /&gt;Thời gian theo dõi trung  bình là 5 năm. Huyết áp trung bình ban đầu của cả 2 nhóm ramipril và  placebo là 139/79 mm Hg. Sau 2 năm huyết áp trung bình của nhóm ramipril  là 135/76 mm Hg và của nhóm placebo là 138/78 mm Hg. Vào lúc chấm dứt  nghiên cứu huyết áp trung bình của nhóm ramipril là 136/76 mm Hg và của  nhóm placebo là 139/77 mm Hg.&lt;br /&gt;Mặc dù huyết áp của 2 nhóm khác biệt  rất ít trong suốt thời gian nghiên cứu, tần suất dồn các biến cố thuộc  tiêu chí đánh giá chính của nhóm ramipril thấp hơn rất có ý nghĩa so với  nhóm placebo (hình 2). Điều đáng ghi nhận là điều trị bằng ramipril  không chỉ giảm phối hợp các biến cố thuộc tiêu chí đánh giá chính nói  chung mà còn giảm từng thành phần trong phối hợp này cũng như giảm nhiều  biến cố khác (bảng 1).&lt;/div&gt; &lt;div style="text-align: justify;"&gt;&lt;br /&gt;&lt;/div&gt; &lt;div style="text-align: center;"&gt;&lt;strong&gt;Hình 2: Tần suất dồn các biến  cố nhồi máu cơ tim, đột quị hoặc chết do nguyên nhân tim mạch của nhóm  ramipril và nhóm placebo trong nghiên cứu HOPE.&lt;/strong&gt;&lt;br /&gt;&lt;/div&gt; &lt;div style="text-align: center;"&gt;&lt;img style="border: 1px solid rgb(0, 0, 0);" alt="Tim-than-h2" src="http://timmachhoc.vn/images/stories/tongquantimmach/Tim-than-h2.jpg" width="344" height="219" /&gt;&lt;/div&gt; &lt;div style="text-align: center;"&gt;&lt;br /&gt;&lt;/div&gt; &lt;div style="text-align: center;"&gt;&lt;strong&gt;Bảng 1: Tần suất các biến cố lâm sàng trong HOPE.&lt;/strong&gt;&lt;br /&gt;&lt;/div&gt; &lt;div style="text-align: center;"&gt;&lt;img style="border: 1px solid rgb(0, 0, 0);" alt="Tim-than-b1" src="http://timmachhoc.vn/images/stories/tongquantimmach/Tim-than-b1.jpg" width="427" height="178" /&gt;&lt;br /&gt;&lt;/div&gt; &lt;div style="text-align: justify;"&gt;&lt;br /&gt;&lt;/div&gt; &lt;div style="text-align: justify;"&gt;Đối với thận liệu pháp ức chế men  chuyển cũng có hiệu quả bảo vệ rất rõ rệt. Trong nghiên cứu MICRO-HOPE  là một nhánh của HOPE thực hiện trên 3577 bệnh nhân đái tháo đường, điều  trị bằng ramipril giảm có ý nghĩa nguy cơ tiểu đạm lượng nhiều (mức  giảm 24%, p = 0,027) &lt;sup&gt;17&lt;/sup&gt;.&lt;br /&gt;Lợi ích của thuốc ức chế men  chuyển được thể hiện không chỉ trong bệnh thận mạn do đái tháo đường mà  cả trong bệnh thận mạn không do đái tháo đường. Nghiên cứu REIN  (Ramipril Efficacy in Nephropathy) là một bằng chứng. REIN là một thử  nghiệm lâm sàng phân nhóm ngẫu nhiên, mù đôi trên 352 người bệnh thận  mạn không do đái tháo đường. Những người này có thanh thải creatinin  trong khoảng 20-70 ml/phút/1,73 m&lt;sup&gt;2&lt;/sup&gt; và lượng đạm trong nước  tiểu &gt; 1 g/24 giờ. Bệnh nhân được phân ngẫu nhiên cho dùng ramipril  (1,25-5 mg/ngày) hoặc placebo. REIN có 2 nhánh : nhánh 1 gồm những bệnh  nhân có lượng đạm trong nước tiểu &gt; 1 g nhưng &lt; p =" 0,03)" p ="  0,01)."&gt;2&lt;/sup&gt; và lượng đạm trong nước tiểu ³ 1,5 g/24 giờ 19.&lt;br /&gt;Nếu  như trong REIN tác động trên thận của thuốc ức chế men chuyển được so  sánh với placebo thì trong nghiên cứu AASK (African American Study of  Kidney Disease and Hypertension) tác động trên thận của thuốc ức chế men  chuyển được so sánh với một thuốc chẹn canxi 20. AASK là một thử nghiệm  lâm sàng phân nhóm ngẫu nhiên, mù đôi thực hiện trên những bệnh nhân  tăng huyết áp người Mỹ gốc Phi có độ lọc cầu thận trong khoảng 20-65  ml/phút/1,73 m&lt;sup&gt;2&lt;/sup&gt;. Lý do chọn người bệnh tăng huyết áp gốc Phi  để nghiên cứu là vì những người này có nguy cơ mắc bệnh thận giai đoạn  cuối cao gấp hơn 20 lần so với người bệnh tăng huyết áp da trắng. Bệnh  nhân được phân ngẫu nhiên cho dùng ramipril (2,5-10 mg/ngày) hoặc  amlodipine (5-10 mg/ngày). Tiêu chí đánh giá gồm các biến cố : (1) giảm  độ lọc cầu thận 50% hoặc 25 ml/phút/1,73 m&lt;sup&gt;2&lt;/sup&gt; so với ban đầu,  (2) mắc bệnh thận giai đoạn cuối phải điều trị thay thế thận và (3)  chết. AASK đã được ngưng sớm trước thời hạn dự kiến (sau 3 năm) vì các  nhà nghiên cứu nhận thấy ramipril có hiệu quả bảo vệ thận vượt trội so  với amlodipine. Trên bảng 2 là tần suất các biến cố giảm độ lọc cầu  thận, mắc bệnh thận giai đoạn cuối và chết ở 2 nhóm. Điều đáng nói là  trong suốt thời gian theo dõi, huyết áp của 2 nhóm hoàn toàn không khác  biệt.&lt;/div&gt; &lt;div style="text-align: justify;"&gt;&lt;br /&gt;&lt;/div&gt; &lt;div style="text-align: center;"&gt;&lt;strong&gt;Bảng 2: Tần suất các biến cố trong nghiên cứu AASK (biến cố/bệnh nhân-năm).&lt;/strong&gt;&lt;br /&gt;&lt;/div&gt; &lt;div style="text-align: center;"&gt;&lt;img alt="Tim-than-b2" src="http://timmachhoc.vn/images/stories/tongquantimmach/Tim-than-b2.jpg" width="442" height="120" /&gt;&lt;br /&gt;&lt;/div&gt; Nói tóm lại, giữa bệnh thận mạn và  bệnh lý tim mạch do xơ vữa động mạch có mối liên hệ và tương tác. Đối  với người bệnh tăng huyết áp, kiểm soát tốt huyết áp là một biện pháp  hữu hiệu bảo vệ cả thận lẫn hệ tim mạch. Riêng liệu pháp ức chế men  chuyển còn mang lại một lợi ích thêm vào và độc lập với tác dụng hạ  huyết áp, do đó liệu pháp không những được chỉ định trong điều trị tăng  huyết áp mà còn được chỉ định nhằm mục đích bảo vệ tim mạch ở người có  nguy cơ tim mạch cao và bảo vệ thận ở người bệnh thận mạn.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;strong&gt;TÀI LIỆU THAM KHẢO&lt;/strong&gt;&lt;br /&gt;1)     National Kidney Foundation. K/DOQI clinical practice guidelines for  chronic kidney disease : evaluation, classification and stratification.  Am J Kidney Dis 2002;39(2 suppl 1):S1-S266.&lt;br /&gt;2)    Keith DS, Nichols  GA, Gullion CM, et al. Longitudinal follow-up and outcomes among a  population with chronic kidney disease in a large managed care  organization. Arch Intern Med 2004;164:659-663.&lt;br /&gt;3)    Go AS, Chertow  GM, Fan D, et al. Chronic kidney disease and the risk of death,  cardiovascular events, and hospitalization. N Engl J Med  2004;351:1296-1305.&lt;br /&gt;4)    Manjunath G, Tighiouart H, Coresh J, et al.  Level of kidney function as a risk factor for cardiovascular outcomes  in the elderly. Kidney International 2003;63:1121-1129.&lt;br /&gt;5)    Sarnak  MJ, Levey AS, Schoolwerth AC, et al. Kidney disease as a risk factor for  development of cardiovascular disease. A statement from the American  Heart Association Councils on Kidney in Cardiovascular Disease, High  Blood Pressure Research, Clinical Cardiology, and Epidemiology and  Prevention. Circulation 2003;108:2154-2169.&lt;br /&gt;6)    Tonelli M, Jose P,  Curhan G, et al, and CARE Trial Investigators. Proteinuria, impaired  kidney function, and adverse outcomes in people with coronary disease:  analysis of a previously conducted randomised trial. BMJ  2006;332:1426-1431.&lt;br /&gt;7)    Brosius FC, Hostetter TH, Kelepouris E, et  al. Detection of chronic kidney disease in patients with or at increased  risk of cardiovascular disease. A Science Advisory from the American  Heart Association Kidney and Cardiovascular Disease Council; the  Councils on High Blood Pressure Research, Cardiovascular Disease in the  Young, and Epidemiology and Prevention; and the Quality of Care and  Outcomes Research Interdisciplinary Working Group. Developed in  collaboration with the National Kidney Foundation. Circulation  2006;114:1083-1087.&lt;br /&gt;8)    Weir MR. Microalbuminuria and cardiovascular disease. Clin J Am Soc Nephrol 2007;2:581-590.&lt;br /&gt;9)     Berl T, Henrich W. Kidney-heart interactions: Epidemiology,  pathogenesis, and treatment. Clin J Am Soc Nephrol 2006;1:8-18.&lt;br /&gt;10)     Schrier RW. Role of diminished renal function in cardiovascular  mortality. Marker or pathogenetic factor? J Am Coll Cardiol 2006;47:1-8.&lt;br /&gt;11)     Schmieder RE, Hilgers KF, Schlaich MP, Schmidt BMW. Renin-angiotensin  system and cardiovascular risk. Lancet 2007;369:1208-1219.&lt;br /&gt;12)     Karalliedde J, Viberti G. Evidence for renoprotection by blockade of the  renin-angiotensin-aldosterone system in hypertension and diabetes. J  Hum Hypertens 2006;20:239-253.&lt;br /&gt;13)    Blood Pressure Lowering  Treatment Trialists’ Collaboration. Effects of different  blood-pressure-lowering regimens on major cardiovascular events: results  of prospectively-designed overviews of randomised trials. Lancet  2003;362:1527-1535.&lt;br /&gt;14)    Bakris GL, Williams M, Dworkin L, et al,  for the National Kidney Foundation Hypertension and Diabetes Executive  Committees Working Group. Am J Kidney Dis 2000;36:646-661.&lt;br /&gt;15)     Heerspink HJL, Ninomiya T, Zoungas S, et al. Effect of lowering blood  pressure on cardiovascular events and mortality in patients on dialysis:  a systematic review and meta-analysis of randomised controlled trials.  Lancet 2009;373:1009-1015.&lt;br /&gt;16)    The Heart Outcomes Prevention  Evaluation Study Investigators. Effects of an  angiotensin-converting-enzyme inhibitor, ramipril, on cardiovascular  events in high-risk patients. N Engl J Med 2000;342:145-153.&lt;br /&gt;17)     The Heart Outcomes Prevention Evaluation Study Investigators. Effects of  ramipril on cardiovascular and microvascular outcomes in people with  diabetes mellitus: results of the HOPE study and MICRO-HOPE substudy.  Lancet 2000;355:253-259.&lt;br /&gt;18)    The GISEN Group (Gruppo Italiano di  Studi Epidemiologici in Nefrologia). Randomised placebo-controlled trial  of effect of ramipril on decline in glomerular filtration rate and risk  of terminal renal failure in proteinuric, non-diabetic nephropathy.  Lancet 1997;349:1857-1863.&lt;br /&gt;19)    Ruggenenti P, Perna A, Gherardi G,  et al. Renoprotective properties of ACE-inhibition in non-diabetic  nephropathies with non-nephrotic proteinuria. Lancet 1999;354:359-364.&lt;br /&gt;20)  Agodoa LY, Appel L, Bakris GL, et al, for the African American Study of  Kidney Disease and Hypertension (AASK) Study Group. Effect of ramipril  vs amlodipine on renal outcomes in hypertensive nephrosclerosis. A  randomized controlled trial. JAMA 2001;285:2719-2728.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;theo timmachhoc.vn&lt;br /&gt;&lt;p&gt;-----------------------------------&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Giảng Đường Y Khoa&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;a href="http://giangduongykhoa.blogspot.com/"&gt;http://giangduongykhoa.blogspot.com&lt;/a&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;a href="http://giangduongykhoa.net/"&gt;http://giangduongykhoa.net&lt;/a&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;-----------------------------------&lt;/p&gt;&lt;div class="blogger-post-footer"&gt;Giảng Đường Y Khoa - Nơi Hội Tụ Kiến Thức Y Khoa&lt;img width='1' height='1' src='https://blogger.googleusercontent.com/tracker/8347068896071358659-741445104566944994?l=giangduongykhoa.blogspot.com' alt='' /&gt;&lt;/div&gt;</content><link rel='replies' type='application/atom+xml' href='http://giangduongykhoa.blogspot.com/feeds/741445104566944994/comments/default' title='Đăng Nhận xét'/><link rel='replies' type='text/html' href='http://giangduongykhoa.blogspot.com/2010/12/tuong-tac-benh-ly-tim-than-dich-te-co.html#comment-form' title='0 Nhận xét'/><link rel='edit' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/8347068896071358659/posts/default/741445104566944994'/><link rel='self' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/8347068896071358659/posts/default/741445104566944994'/><link rel='alternate' type='text/html' href='http://giangduongykhoa.blogspot.com/2010/12/tuong-tac-benh-ly-tim-than-dich-te-co.html' title='Tương tác bệnh lý Tim-Thận: Dịch tễ, cơ chế bệnh sinh và điều trị'/><author><name>Giảng Đường Y Khoa</name><uri>http://www.blogger.com/profile/01045762399869292181</uri><email>noreply@blogger.com</email><gd:image rel='http://schemas.google.com/g/2005#thumbnail' width='32' height='32' src='http://1.bp.blogspot.com/_iO0u_-8tJ8E/S95LXKfU_tI/AAAAAAAAAcY/p80KgeQ8pf0/S220/logo-1.png'/></author><thr:total>0</thr:total></entry><entry><id>tag:blogger.com,1999:blog-8347068896071358659.post-8711936046987045914</id><published>2010-12-15T05:22:00.000-08:00</published><updated>2010-12-15T05:22:00.176-08:00</updated><category scheme='http://www.blogger.com/atom/ns#' term='Nội Khoa - tim mạch'/><title type='text'>Các nghiên cứu tiên phong về Dihydropyridine trong điều trị bệnh tim mạch</title><content type='html'>&lt;p&gt;&lt;/p&gt;&lt;div style="text-align: right;"&gt;&lt;strong&gt; ThS. Hồ Huỳnh Quang Trí&lt;br /&gt;Viện Tim TP.HCM&lt;/strong&gt;&lt;/div&gt; &lt;div style="text-align: justify;"&gt;&lt;br /&gt;&lt;/div&gt; &lt;div style="text-align: justify;"&gt;&lt;strong&gt;MỞ ĐẦU&lt;/strong&gt;&lt;br /&gt;Nhóm thuốc  chẹn canxi hiện là một trong những nhóm thuốc tim mạch thông dụng nhất.  Trong số các nhóm thuốc được dùng để điều trị tăng huyết áp, nhóm chẹn  canxi, nhóm ức chế men chuyển và nhóm chẹn thụ thể angiotensin cùng được  xếp loại là thuốc “mới”  để phân biệt với các thuốc “cũ” là nhóm chẹn  bêta và nhóm lợi tiểu 1. Tuy nhiên nhóm chẹn canxi, đặc biệt là chẹn  canxi có cấu trúc dihydropyridine (DHP), phải trải qua nhiều thăng trầm  hơn so với nhóm ức chế men chuyển và nhóm chẹn thụ thể angiotensin. Từng  có khoảng thời gian y giới đã có những nghi ngờ về hiệu quả cũng như về  tính an toàn của các thuốc chẹn canxi. Đầu thế kỷ này nhiều nghiên cứu  lần lượt được công bố đã giúp y giới có một cái nhìn đúng hơn về thuốc  chẹn canxi DHP, trong số này phải kể đến những nghiên cứu có ý nghĩa  tiên phong như  INSIGHT và ACTION.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;strong&gt;INSIGHT : BƯỚC NGOẶT TRONG ĐIỀU TRỊ TĂNG HUYẾT ÁP&lt;/strong&gt;&lt;br /&gt;Cuối  thập niên 1990 có 3 thử nghiệm lâm sàng lớn được công bố chứng tỏ hiệu  quả giảm các biến cố tim mạch nặng của thuốc chẹn canxi DHP ở bệnh nhân  tăng huyết áp. Đó là các thử nghiệm lâm sàng STONE (Shanghai Trial of  Nifedipine in the Elderly), Syst-Eur (Systolic Hypertension in Europe)  và Syst-China (Systolic Hypertension in China). STONE thực hiện trên  1632 người bệnh tăng huyết áp ở thành phố Thượng Hải cho thấy nifedipine  giảm 66% nguy cơ đột quị và rối loạn nhịp tim nặng 2. Trong Syst-Eur  (thực hiện trên 4695 bệnh nhân tăng huyết áp tâm thu ở Châu Âu) và  Syst-China (thực hiện trên 2394 bệnh nhân tăng huyết áp tâm thu ở Trung  Quốc), nitrendipine giảm có ý nghĩa nguy cơ đột quị và tử vong tim mạch  3,4. Tuy nhiên trong cả 3 nghiên cứu này các thuốc nifedipine và  nitrendipine được so sánh với placebo chứ không phải với một thuốc hạ  huyết áp khác.&lt;br /&gt;Cũng trong khoảng thời gian này, kết quả của một số  nghiên cứu bệnh-chứng gợi ý thuốc chẹn canxi có thể tăng nguy cơ nhồi  máu cơ tim, xuất huyết tiêu hóa (đặc biệt ở người lớn tuổi) và ung thư   5-7. Các thông tin này đã gây hoang mang cho một bộ phận y giới và cho  nhiều bệnh nhân tăng huyết áp được kê toa thuốc chẹn canxi. Năm 2000 một  nhóm nhà nghiên cứu, đứng đầu là Pahor và Psaty, lại công bố một phân  tích gộp số liệu của 9 thử nghiệm lâm sàng nhỏ-vừa (cỡ mẫu không quá  1000 bệnh nhân) cho thấy thuốc chẹn canxi có hiêu quả kém hơn các nhóm  thuốc hạ huyết áp khác (lợi tiểu, chẹn bêta, ức chế men chuyển,  clonidine) trong phòng ngừa các biến cố tim mạch nặng (nhồi máu cơ tim,  suy tim, đột quị, chết do nguyên nhân tim) ở bệnh nhân tăng huyết áp 8.&lt;br /&gt;Trong  bối cảnh bất lợi như vậy đối với thuốc chẹn canxi, kết quả nghiên cứu  INSIGHT (International Nifedipine GITS Study: Intervention as a Goal in  Hypertension Treatment) được công bố giữa năm 2000 đã “giải oan” cho  thuốc chẹn canxi và giúp y giới có một cái nhìn đúng hơn về nhóm thuốc  này.&lt;br /&gt;INSIGHT là một thử nghiệm lâm sàng phân nhóm ngẫu nhiên, mù đôi,  đa trung tâm (89 trung tâm thuộc 8 quốc gia Châu Âu và Israel). Mục  tiêu INSIGHT là so sánh hiệu quả ngăn ngừa tử vong và biến cố tim mạch  nặng ở bệnh nhân tăng huyết áp nguy cơ cao của nifedipine dạng GITS  (gastrointestinal-transport-system) và phối hợp lợi tiểu co-amilozide  (hydrochlorothiazide + amiloride) 9.&lt;br /&gt;Nifedipine GITS là dạng bào chế  mới của nifedipine, tạo nên một sự phóng thích kéo dài (16-18 giờ) sau  khi uống của hoạt chất qua cơ chế bơm thẩm thấu từ một lỗ rất nhỏ khoan  bằng laser trên vỏ viên thuốc 10. So với các dạng bào chế khác, kể cả  nifedipine retard, nifedipine GITS giúp kiểm soát huyết áp ổn định hơn  suốt 24 giờ và không làm tăng hoạt tính giao cảm và tần số tim 10-12.&lt;br /&gt;Bệnh  nhân được tuyển vào INSIGHT là những người tăng huyết áp (huyết áp tâm  thu = 150 mm Hg và huyết áp tâm trương = 95 mm Hg, hoặc huyết áp tâm thu  = 160 mm Hg) và có ít nhất một trong số các yếu tố nguy cơ sau : tăng  cholesterol, hút thuốc, tiền sử gia đình nhồi máu cơ tim sớm, phì đại  thất trái xác định bằng siêu âm tim, bệnh mạch vành (có đau thắt ngực ổn  định hoặc không triệu chứng), bệnh động mạch ngoại vi (khập khiễng cách  hồi, đau lúc nghỉ và hoại thư chi) và tiểu đạm (= 0,5 g/25 giờ).&lt;br /&gt;Bệnh  nhân được phân ngẫu nhiên cho dùng nifedipine GITS (liều khởi đầu 30  mg/ngày) hoặc co-amilozide (liều khởi đầu là hydrochlorothiazide 25 mg +  amiloride 2,5 mg/ngày). Có 4 bước điều chỉnh thuốc trong trường hợp  huyết áp không giảm hơn 20/10 mm Hg hoặc vẫn còn cao hơn 140/90 mm Hg.  Bước 1 là tăng liều thuốc ở mỗi nhánh lên gấp đôi. Bước 2 là thêm  atenolol 25 mg/ngày (hoặc enalapril 5 mg/ngày nếu atenolol chống chỉ  định). Bước 3 là tăng liều thuốc thêm vào (atenolol hoặc enalapril) lên  gấp đôi. Bước 4 là thêm một thuốc hạ huyết áp khác (ngoài chẹn canxi và  lợi tiểu).&lt;br /&gt;Tiêu chí đánh giá chính là phối hợp các biến cố chết do  nguyên nhân tim mạch hoặc mạch máu não, đột quị không chết, nhồi máu cơ  tim không chết và suy tim. Các tiêu chí đánh giá phụ gồm tử vong toàn  bộ, chết do nguyên nhân mạch máu và các biến cố mạch máu không chết (bao  gồm cơn thiếu máu não thoáng qua, đau thắt ngực mới xuất hiện hoặc tăng  nặng và suy thận).&lt;br /&gt;Tổng cộng có 3157 bệnh nhân được phân vào nhánh  nifedipine GITS và 3164 bệnh nhân được phân vào nhánh co-amilozide.  Huyết áp khởi điểm của bệnh nhân là 173/99 mm Hg. Có 1498 (23,7%) bệnh  nhân tăng huyết áp tâm thu đơn độc. Đặc điểm bệnh nhân được nêu trên  bảng 1.&lt;/div&gt; &lt;div style="text-align: justify;"&gt;&lt;br /&gt;&lt;/div&gt; &lt;div style="text-align: center;"&gt;&lt;strong&gt;Bảng 1: Đặc điểm bệnh nhân tham gia nghiên cứu INSIGHT.&lt;/strong&gt;&lt;br /&gt; &lt;table style="border-collapse: collapse; width: 100%;" border="1" cellpadding="3" cellspacing="0"&gt; &lt;tbody style="text-align: left;"&gt; &lt;tr style="text-align: left;"&gt; &lt;td style="text-align: left;" valign="top" width="189"&gt; &lt;p&gt; &lt;/p&gt; &lt;/td&gt; &lt;td style="text-align: left;" valign="top" width="189"&gt; &lt;p&gt;Nifedipine   (n = 3157)&lt;/p&gt; &lt;/td&gt; &lt;td style="text-align: left;" valign="top" width="189"&gt; &lt;p&gt;Co-amilozide   (n = 3164)&lt;/p&gt; &lt;/td&gt; &lt;/tr&gt; &lt;tr style="text-align: left;"&gt; &lt;td style="text-align: left;" valign="top" width="189"&gt; &lt;p&gt;Giới   (nam/nữ)&lt;/p&gt; &lt;/td&gt; &lt;td style="text-align: left;" valign="top" width="189"&gt; &lt;p&gt;1456   (46,1%)/&lt;/p&gt; &lt;p&gt;1701   (53,9%)&lt;/p&gt; &lt;/td&gt; &lt;td style="text-align: left;" valign="top" width="189"&gt; &lt;p&gt;1473   (46,6%)/&lt;/p&gt; &lt;p&gt;1691   (53,4%)&lt;/p&gt; &lt;/td&gt; &lt;/tr&gt; &lt;tr style="text-align: left;"&gt; &lt;td style="text-align: left;" valign="top" width="189"&gt; &lt;p&gt;Tuổi (năm)&lt;/p&gt; &lt;p&gt;&lt;&gt; &lt;p&gt;60-70&lt;/p&gt; &lt;p&gt;&gt; 70&lt;/p&gt; &lt;/td&gt; &lt;td style="text-align: left;" valign="top" width="189"&gt; &lt;p&gt; &lt;/p&gt; &lt;p&gt;759 (24,1%)&lt;/p&gt; &lt;p&gt;1508   (47,9%)&lt;/p&gt; &lt;p&gt;883 (28,0%)&lt;/p&gt; &lt;/td&gt; &lt;td style="text-align: left;" valign="top" width="189"&gt; &lt;p&gt; &lt;/p&gt; &lt;p&gt;703 (22,3%)&lt;/p&gt; &lt;p&gt;1554   (49,2%)&lt;/p&gt; &lt;p&gt;902 (28,6%)&lt;/p&gt; &lt;/td&gt; &lt;/tr&gt; &lt;tr style="text-align: left;"&gt; &lt;td style="text-align: left;" valign="top" width="189"&gt; &lt;p&gt;Tăng   cholesterol&lt;/p&gt; &lt;/td&gt; &lt;td style="text-align: left;" valign="top" width="189"&gt; &lt;p&gt;1646   (52,1%)&lt;/p&gt; &lt;/td&gt; &lt;td style="text-align: left;" valign="top" width="189"&gt; &lt;p&gt;1644   (52,0%)&lt;/p&gt; &lt;/td&gt; &lt;/tr&gt; &lt;tr style="text-align: left;"&gt; &lt;td style="text-align: left;" valign="top" width="189"&gt; &lt;p&gt;Hút thuốc&lt;/p&gt; &lt;/td&gt; &lt;td style
